Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

VÌ SAO ÔNG GIÓNG VỀ GIỜI? (truyện dài kỳ)

Truyền thuyết "Thánh Gióng" thì ai cũng biết rồi nhưng muốn kể lại cho vui. Dùng lối viết nôm, ít dùng từ Hán Việt nên có vẻ thô thô. Hư cấu hư véo thêm tí cho có mầu chuyện kể. Viết chưa xong nhưng vẫn thử đăng. Nếu độc giả hưởng ứng thì viết tiếp...
Ngày xửa ngày xưa…
Đời Hùng Vương thứ sáu. Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Lúc bấy giờ, dân nước ta đang thuở sơ khai. Chữ Hán cũng chưa vào nước ta được bao nhiêu, đạo Khổng chưa ra đời, thế giới không bị ràng buộc bởi quân sư phụ… Người dân sống bởi cái tình là chính, còn cái lý cũng rất mực giản đơn: “Nói đúng cái thúng phải nghe”. Nói chuyện với nhau chả kể gì quan tước, vai trên vai dưới… gọi nhau vẫn “mày tao” như dân nước ngoài thời hiện đại.
(Sở dĩ phải giải thích như vậy để mọi người đừng trách người kể chuyện hay nói bậy nói bạ mà không theo phép tắc.)


Kỳ 1/ Ở làng Gióng thuộc bộ Vũ Ninh có một đôi vợ chồng đã già, sống lương thiện mà vẫn chưa có con nối dõi. Hai ông bà rất lấy làm buồn phiền.

Giời thấy vậy thì thương. Nhân có một tướng nhà giời mắc lỗi, Giời bèn trừng phạt bằng cách cho xuống trần đầu thai nhà ấy để sau này lập công chuộc tội.

Người vợ già một hôm ra vườn cà thấy có dấu chân to bằng mười dấu chân người thường. Lạ quá! Sao lại có người to thế? Bà ta bèn cho chân mình vào ướm thử.
Khi đặt bàn chân mình vào cái dấu chân to đùng kia chợt thấy trong người rạo rực, lòng xuân lai láng như thuở còn mười tám đôi mươi.

Bà ta vội vàng về nhà, thấy ông chồng già đang ngồi ngoài sân cởi trần, dạng chân đan rổ, khố dây lỏng lẻo vắt sang một bên, bà lão càng rạo rực bội phần… Vội lôi thốc ông chồng vào buồng, cởi bỏ xống áo của mình, giật cái khố dây của ông lão… rồi vòng tay ghì riết…
Lúc thỏa mãn cơn dục tình, buông tay ra thì ông lão đã ngoẹo cổ, sùi bọt mép…

Bà không dám khóc to. Bảo rằng ông bị phải gió. Làng xóm xót thương giúp đỡ chôn cất ông chồng chu đáo.

Cũng từ hôm ấy bà lão có thai. Chín tháng mười ngày vẫn không thấy đẻ. Mọi người bảo là chửa trâu. Rồi đến mười hai tháng thì bà đẻ được một con giai đặt tên là Muộn.

Muộn đẻ ra mà không biết khóc. Rồi ba tháng, năm tháng, mười tháng không biết cười… hơn năm giời cũng chẳng u ơ lấy một tiếng, mọi người bảo là câm. Suốt ngày chỉ nằm mút tay, chân khua loạn xạ.

Bà già mải đi làm, để thằng bé Muộn nằm một mình ở nhà. Mũi rãi nhoe nhoét, ruồi nhặng bu đầy mặt.

Lúc bấy giờ giặc Ân phương Bắc lăm le xâm lược nước ta. Vua Hùng hoảng sợ bèn gọi các tướng lại họp bàn. Nhưng khổ một nỗi các tướng (lúc bấy giờ gọi là Lạc tướng) toàn con ông cháu cha chỉ giỏi đội mũ đeo râu ra oai với thiên hạ, chứ nghe đến đánh trận thì mặt xanh như đít ngóe. Vả lại lúc đó tướng nhiều hơn quân. Tất cả các tướng đồng thanh rằng phải án binh bất động.

Vua lại gọi các quan (gọi là Lạc hầu) đến hiến kế, các quan thảy đều lo sợ nếu đánh giặc thì nhà cao cửa rộng của mình tan hoang, đất cát tiền bạc mất hết, việc mua quan bán tước bị đình hoãn… Vậy nên đồng lòng tâu vua xin hòa để giữ ghế, để tiếp tục tham nhũng sách nhiễu dân lành.

Vua nghe theo quan tướng, cho người đem lễ vật sang triều đình nhà Ân xin làm chư hầu để được phong vương. Bọn giặc Ân được thể càng lộng hành. Nó sang giả vờ thuê đất thuê rừng, lấn biển… đưa người của nó vào làm rồi bóc lột thẳng tay người Văn Lang. Nham hiểm hơn bọn giặc còn đưa người khai khoáng mỏ vàng, mỏ bạc… bọn này dụ dỗ con gái Văn Lang nhẹ dạ, giả vờ lấy làm vợ để đồng hóa người nước ta và dễ bề vơ vét của cải. Hàng đoàn người ngựa kìn kìn chở vàng về phương Bắc mà vẫn không hết của. Bọn giặc lại bí mật đào hầm chôn giấu vàng bạc rồi dụ dỗ mua các thiếu nữ đồng trinh chôn sống làm thần giữ của đợi đời sau con cháu sang lấy. Dân Văn Lang biết hết, họ đã trình báo lên các quan nhưng bọn quan tướng Văn Lang chỉ biết giương mắt ếch ra nhìn mà không dám ho he phản đối dù chỉ một nhời…


Dân tình vô cùng bực bội. Các bậc kỳ mục trong làng ngoài xã tập hợp từng đoàn phản đối. Vua nhà Ân bắt vua ta và các quan tướng phải thẳng tay bắt bớ đánh dẹp. Rồi còn bắt vua loan báo rằng việc chống giặc là việc của triều đình. Cấm chỉ dân đen manh động. Đứa nào làm trái thì bắt chém.

Đã vậy triều đình còn bắt dân nay phải mở lễ hội mừng vua, mai phải mở tế lễ các thánh thần phương Bắc. Dân lại phải bỏ việc đồng áng để tập trung rước sách rất là vất vả. Người già cũng chẳng được tha.


Bà mẹ cậu bé Muộn mặc dù đã già vẫn phải đi làm nghĩa vụ với vua, với vua Ân đất Bắc. Cậu bé Muộn thường bị bỏ đói. Muộn ta nằm một mình đập chân thình thịch xuống chõng tre, rồi tự dưng mở miệng u ơ hét váng cả nhà. Chợt có một con nhặng vo ve bay đến đậu vào mang tai bảo:
- Mày khôn hồn thì nằm im. Mày mà nói bây giờ là mày phải chết đấy!

Thì ra Muộn biết nói chứ không phải là câm như mọi người thường nghĩ. Còn con nhặng chính là Thổ thần.

Cậu bé Muộn đành thì thầm chỉ đủ cho con nhặng nghe thấy:
- Sao tao lại không được nói!
- Mày nằm ở đây không biết. Mấy người đòi chống giặc, nhà vua bắt hết rồi. Mày mà nói ra, vua nó sai người đến cho một nhát thì xuống âm phủ, rồi thì không có cơ hội lập công chuộc tội với giời đâu. Cứ nằm im đấy mà đợi.
- Vậy lúc nào mới được nói?
Thổ thần nói:
- Bao giờ tao bảo mới được nói.
Muộn lại nằm mút tay ngẫm ngợi. Rồi lại hỏi:
- Vậy nhỡ giặc nó đánh ngay sang đây thì sao.
Thổ thần bảo:
- Từ thuở Lộc Tục Kinh Dương Vương đến nay, giữ được nước giữ được đất là nhờ dân. Nay bọn vua quan triều đình bảo để chúng nó lo. Có mà lo được cứt! Cái lũ hèn này chỉ giỏi bắt nạt dân lành.... Mày cứ nằm im đấy đã, để chúng nó biết thân. Rồi chúng nó sẽ trắng mắt ra. Lúc bấy giờ mình đứng dậy cũng chưa muộn. Nhớ nhá! Cứ nằm im. Tức mấy cũng không được nói.

Thổ thần dặn vậy rồi bay đi. Muộn ta lại nằm mút tay ngẫm ngợi. Từ đấy giở đi không u ơ gì nữa. Mọi người vẫn bảo là câm.

Kỳ sau đăng tiếp...
(Ảnh mạng có tính chất minh họa. không liên quan đến nội dung bài viết) Đọc thêm!

MÁI ĐÌNH LÀNG BIỂN

U 60 thuốc lá đá thuốc lào. Cũng góp với phong trào xã hội hóa...ca múa hát. Hát Cựu Chiến binh í mà. Mấy hôm nay bận viết một cái chuyện dài dài một tý, chưa xong... Đành đưa bài hát lên cho nhà cửa đỡ trống trải... (Lưu ý một phát: giọng hát quê, múa cũng quê... múa hết đoạn một, quần suýt tụt, sợ lộ hàng, chạy vào xếch quần lên...rồi ra múa tiếp. Đùa vậy thôi, chả là cũng định học tập theo tin tức cải ngồng chính thống một tý teo. Mong các bác lượng thứ! Hi...Hi...


. Đọc thêm!

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

KIỂU CÙN NÔNG DÂN HẠNG... CHÍN


Có một lão vốn là nông dân… Một ngày đẹp giời tự dưng động cỡn xoay ra làm thơ. Đó là hôm đang cày ruộng thấy một bà đi chợ mặc áo vàng đi qua chỗ lão thì vén quần ngồi… đái. Lão liền tức cảnh sinh tình vọt ra mấy câu như sau:
Áo em nắng nhuộm vàng hoe
Cỏ mềm dưới gót sè sè vàng theo…
Làm xong tự thấy hay: Tượng thanh, tượng hình, sắc màu, nước nôi, đất giời… đủ cả. Ơ… Mình tài thật!... mà lại ngu quá đỗi: sao bây giờ mình mới phát hiện ra mình?
Vậy là bỏ trâu bỏ ruộng về nhà, làm thêm dăm bài nữa kiểu như vậy, suốt ngày ư ử ngâm nga ra chiều tâm đắc. Rồi để ra dáng thi sĩ, lão để tóc dài như đàn bà...thêm một tý râu ba chòm. Già khú đế, trông như ông cụ nhưng mỗi lần người ta gọi bằng cụ hay bằng ông thì giận lắm. Cứ bắt gọi bằng "anh" rồi lý sự vì… nhà thơ không có tuổi.
Thiên hạ người như lão cũng không hiếm. Nhiều tay cũng làm thơ và cũng thích được gọi là “anh”. Và trong thơ các hắn tất cả những người mang giới tính nữ đều được gọi là em tất… chả kể gì tuổi tác.
Chả biết thế nào mà đám vô công rồi nghề này lại tập hợp được với nhau. Đầu tiên chỉ mấy ông… dần dần nhiều người… nên lập thành hội thơ. Nhờ cái bài thơ vịnh người đàn bà đái nên đặt tên là “Hội thơ Cỏ xanh.” Nhưng lại thấy không ổn vì bài thơ ấy lại nói cỏ bị nhuộm vàng nên đổi thành “Hội thơ Miền Cỏ” cho nó mênh mông. Cũng có tôn chỉ mục đích hẳn hoi. Tôn cái lão để râu lên làm chủ tịch Hội và tất cả đều gọi ông ta là “Anh Nhớn”. Ông này lúc đầu giận lắm: vì chữ “Nhớn” nó quê quê; nhưng sau lại khoái trong hội gọi mình như thế. Thế là hay! Hay bởi chữ “Nhớn” nó mang phong vị thi ca, đậm đà hồn Việt. Gọi riết rồi thành quen. Thành thử trong hội gọi nhau là “anh”; các “anh” lại gọi Hội trưởng là “Anh Nhớn”. Rồi cũng có chấp hành, chấp hành có thường vụ. Đứng đầu các “anh” trong thường vụ là “anh Nhớn”.
Nhà thơ thì không có tuổi… nhưng dẫu không có tuổi thì cũng chẳng muôn năm được, vẫn cứ phải chết. Hội trưởng chết giữa lúc Hội đang đông. Vậy là đám đông ấy xúm vào tôn vinh lão ta thành thánh thơ, thành biểu tượng của Hội thơ. Anh nào mà xúc phạm Hội, xúc phạm “Anh Nhớn” thì thổ tả: án kỷ luật nhẹ thì treo bút bắt làm điếu đóm khi các anh khác ngồi ngâm vịnh, nặng thì khai trừ để về nhà tiếp tục… cày ruộng.
Để khẳng định vị trí và để tôn vinh hội của mình trong xã hội, các “anh” ra sức làm thơ ngắn thơ dài đủ cả, in phô tô phát như bươm bướm. Nhưng thiên hạ lắm điều. Có kẻ bảo “Ra cái đếch gì mấy thằng dở hơi, hâm hấp. Chỉ được cái “sĩ” hão.”
Người ta nói nhiều. Câu bất hủ ấy cuối cùng cũng đến tai các vị chấp hành “Miền Cỏ”
Sau một hồi tư duy suy ngẫm về cái câu ngợi ca không mấy hay ho trên thì Ban chấp hành đã họp mấy hội nghị để chấn chỉnh Hội. Phải làm sao cho đỡ hâm, đỡ dở hơi. Trước hết mỗi Hội viên phải không được dở hơi, không được hâm…
Nhưng không dở hơi, không hâm thì các hội viên tắc tỵ không làm được thơ. Không có thơ thì hội thơ để làm gì? Lại tư duy suy ngẫm… Thường vụ quyết định: Hâm một tý, dở hơi một tý cũng được nhưng phải có đạo đức trong sạch. Để khẳng định điều ấy thì trước tiên phải tự kiểm điểm, sau đó đưa ra Hội phê bình góp ý; cuối cùng là bỏ phiếu xem có đủ tư cách không. Nếu đủ tư cách thì phát cho một miếng bìa cứng như vỏ bao thuốc lá Vinataba trên có in chữ “Thẻ Hội viên Thơ Miền Cỏ” ép platic. Nếu chưa đủ tiêu chuẩn thì phải phấn đấu tiếp để lần sau được phát.
Rắc rối chính là từ cái việc phát thẻ…
Gần nhà mình có hội viên của Hội thơ trên, đó là nhà thơ Xuân Đinh- đấy là bút danh của hắn, còn mọi người gọi hắn là Đinh Rỗ vì hắn sở hữu khuôn mặt sẹo đậu mùa như tổ ong bầu.
Hắn không được phát thẻ hội viên thơ đợt đầu. “Vì tội hay đánh vợ”. Trong cuộc họp sau phần kiểm điểm thì “Anh Nhì”- người kế vị “Anh Nhớn” đã kết luận như thế.
Thằng này tức quá về lôi vợ ra tẩn cho một trận. “Mẹ mày! Vì mày mà ông không được phát thẻ”

Con vợ Đinh Rỗ bị đánh đau, tức quá cãi, thằng chồng lộn tiêt càng đánh càng hăng… Rồi vợ Đinh cũng vùng chạy thoát được. Khi đã chạy cách nhà một khoảng cách khá xa, thị dừng lại thở: An toàn rồi! Dưng mà tức không chịu được. Giời ạ! Bà phải cho biết tay… Người đàn bà tả tơi vì bị đánh bắt đầu nhảy tưng tưng vừa đi vừa chửi:
- Cha tổ bố cái Hội khốn nạn… Cha tổ bố cái thằng nhớn… cha tiên nhân cái thằng bé… chúng mày rúc đầu vào đâu thì ra đây dỏng tai nghe bà chửi đơ…i. Chỉ vì cái thẻ đáng để xúc cứt gà, chúng mày xúi giục chồng bà về đánh bà thì mặt chúng mày chỉ như cái mặt l… Chồng bà nó đánh bà thì giời đánh thánh vật năm đời bảy đời tông ty bọt rãi chúng mày… những thằng kia nh…á…
Lúc này “anh Nhì” đang hân hoan về thắng lợi của cuộc chỉnh đốn Hội: Phen này uy tín của Hội ta lại cao vút lên tầm vũ trụ… Chợt nghe tiếng chửi. Anh Nhì vội chạy ra, thấy vợ Đinh đang vừa nhảy vừa vỗ háng bành bạch chửi cái Hội của lão, chửi “anh Nhớn” và chửi cả lão… Con mẹ này gớm thật. Phải phủ đầu cho nó kinh! Lão e hèm rồi lên giọng rõ oai:
- Này chị kia! Chị chửi ai?
Vợ Đinh sững lại khi thấy trước mặt là “Anh Nhì” đang đứng tấn, chân dạng, tay chống hông, nghênh mặt. Nhưng người đàn bà đang cơn hăng:
- Tao chửi chúng mày, chửi cái Hội chúng mày đớ…i…
Khí thế vợ Đinh Rỗ đang bừng bừng. “Anh Nhì” cũng chờn chờn. Nhưng thấy cần phải quên thân mình, sẵn sàng anh dũng hy sinh bảo toàn danh dự cho “Miền Cỏ”… quyết không để con mẹ này phỉ báng tục tằn làm ảnh hưởng uy tín của Hội, uy tín của “anh Nhớn”. Lão lấy hết sức bình sinh quát:

- Này tôi bảo cho mà biết: Chị chửi tôi cũng được. Nhưng mà không được chửi đến Hội thơ, chửi “Anh Nhớn”…
- Tao cứ chửi đấy! Chúng mày làm gì được tao? Vợ Đinh còn quát to hơn.
“Anh Nhì” lúng túng:
- Thì… Thì tôi không để yên cho chị.
Được thể vợ Đinh gào lên:
- Á à... Mày không để yên à… thử xem mày làm cái gì được bà… bà đây nông dân hạng chín rồi nhá… Đứa bằng nghìn bằng vạn mày bà cũng coi như không nhá…Bà mà lại sợ chúng mày à… Bà con làng xóm ơi nghe tôi chửi chúng nó đây này: bà ỉa mười tám bãi, bà đái hăm mốt lần vào cái “miền cỏ” nhá… Hội chúng mày ăn máu ăn rớt hàng tháng cho bà, thằng nhớn thằng bé cũng ra đây mà liếm… hàng ngày cho bà nhá …nhá…

(Ảnh mạng có tính chất minh họa. không liên quan đến nội dung bài viết)
...
Đọc thêm!

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

KHIẾP !


-Nghỉ một tý đã! Có đứa nó dọa!
-Ai dọa?
-... Ai biết... là ai!














... Đọc thêm!

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

KỂ CHUYỆN TRUNG THU (kỳ cuối)


(Tiếp theo và hết)
THI ĐUA:
Tiếng hai cái loa sắt uôm uôm vang lên cùng với tiếng ùng ùng của bốn cái loa thùng cao cỡ đầu người. Nhạc với chả nhẽo! Nghe cứ như đấm vào lỗ tai. Một giọng nam khàn khàn cất lên:
“Sạch làng sạch ngõ, từ trước ra sau
Chúng em thi đua…vệ sinh môi trường”
Ông bí thư xóm ba đang mải nhìn bọn trẻ cả xã đang múa theo nhịp tiếng nhạc, tiếng hát. Phải nói là thằng Thịnh nhà mình giỏi thật vì quân nhà ông múa đều lắm, bọn con gái uốn éo tay chân, cong đít ngửa đầu như múa chèo. Còn các xóm khác thì đơ đơ như khúc gỗ tay ngoáy ngoáy bắt chuồn chuồn, có lúc lại như người tập bơi. Trông chả ra múa cũng không ra thể dục. Nhưng ông ngẩn người, sao lại đi múa hát cái anh “Vệ sinh môi trường”? Ngẫm nghĩ một tí, liên hệ một tý rồi ông chợt phát hiện: thằng nào nghĩ ra cái bài hát múa này đúng là quân phản động… càng nghĩ sâu xa càng thấy phản động! Không còn cái gì để mà hát múa hay sao mà Trung Thu lại hát “dọn làng dọn ngõ”. Đầy cái cần phải ngợi ca: ca ngợi vừng dương sáng ngời, đồi núi trập trùng, biển rộng bao la, hải âu tung cánh, ca ngợi… hoặc cùng lắm thì cũng phải ca ngợi “Ông trăng tròn tròn, tròn như cái mâm con”. Thế này thì không được. Ông xăm xăm đến chỗ ban tổ chức… Phải hỏi tay Tổng phụ trách cho ra nhẽ.
Đến Ban tổ chức thì gặp một đám xúm đông xúm đỏ. Cãi nhau rồi! May chưa đánh nhau… Mà cuộc đấu khẩu lại đang xảy ra giữa thằng Thịnh với tay Tổng phụ trách. Thằng Thịnh mặt đỏ gay chửi: “Chấm cháp như cái con đầu b…” Tay Tổng phụ trách sấn lại túm cổ áo thằng Thịnh: “Mày bảo ai chấm như cái con đầu b…?”
Thấy ông đến, thằng Thịnh như vớ được cứu tinh liền giằng tay thằng kia ra rồi quay sang ông phân bua:
- Mẹ nó chứ! Cái trại của xóm 3 như vậy, cái cổng trại của xóm 3 mấy chục triệu hoành tráng như vậy mà nó chấm điểm thấp hơn trại của xóm 5. Nó lí sự của nó hài hòa màu sắc. Hài hòa cái gì? Hài hòa mấy cái đèn lồng Tàu đỏ như đít khỉ treo trước trại như “đèn lồng đỏ treo cao” trước cửa nhà thổ… Đẹp! Đẹp như mặt … con đĩ ế…
Tay Tổng phụ trách cũng ngảnh cổ phân tích:
- Về mặt mỹ thuật thì như thế… nhưng vấn đề cơ bản… vấn đề cơ bản là xóm 3 còn thiếu…
Cả đám đông, cả thằng Thịnh và cả ông bí thư xóm 3 nhất loạt đồng thanh: “Thiếu cái gì?” Hỏi xong thì ông Bí thư hói đầu cũng không ngờ cũng mình máu thế, nhập cuộc nhanh thế. Dưng mà đây là vấn đề màu cờ sắc áo! Phải hỏi cho ra nhẽ.
- Thiếu … Thiếu cái chủ đề…
Cả đám ngớ ra. Chủ đề là cái gì nhỉ?
Thằng Thịnh cũng ngớ người. À biết rồi:
- Tao còn lạ đếch gì cái chủ đề… có mấy câu vớ vẩn: đầu tiên mừng cái nọ mừng cái kia rồi thì “ Thi đua chăm ngoan học giỏi, cùng tiến bước lên Đoàn” Thiếu niên không lên Đoàn thì còn lên giời à! Văn chả ra văn, thơ chả ra thơ, khẩu hiệu chẳng ra khẩu hiệu. Mấy thằng phụ trách ngồi rỗi dái vô công rồi nghề rồi nghĩ vớ nghĩ vẩn. Năm nào chả giống năm nào…
Tay Tổng phụ trách chộp lấy cái câu của thằng Thịnh vừa nói để nâng quan điểm:
- Này tao bảo cho mày biết nhá. Mày chửi tao thì được chứ mày dám chửi cấp trên, mày bảo chủ đề là không ra cái gì nhá. Thế thì mày là đồ phản động nhá. Tao gọi an ninh đến gông cổ mày vào nhá. Chửi đi, chửi nữa đi…
Bỏ mẹ thật! Tình hình này gay! Lôi thôi nó lại bắt thằng Thịnh vào Công an như chơi. Ông Bí thư xóm Ba vội dàn hòa:
- Thôi thôi. Sai thì sửa. Thiếu thì làm thêm. Việc gì đao to búa lớn- Rồi ông quay sang quát thằng Thịnh như kiểu Bá Kiến quát Lý Cường: Thằng này! Có thôi ngay không! Anh em trong xã chứ đâu xa mà phải cãi nhau.
Thằng Thịnh lủi thủi về trại. Chắc là sợ! Đám đông cũng giải tán.

HẬU TRUNG THU:
Ông bí thư hói đầu đang hậm hực vì cái thằng Tổng phụ trách chơi đểu. Trại của xóm ông làm hết hàng chục triệu mà vẫn thua trại của thằng xóm 5. Đúng là cái loại cục bộ bản vị địa phương. Được rồi! Mày sẽ biết mặt ông. Từ nay mà lên xóm ông tán gái thì ông sẽ bảo thằng Thịnh cùng lũ đàn em nó đập chết.

Chợt thằng con nhà Quắc chạy tọt vào nhà: “Ông ơi cứu cháu với!” rồi nó chạy nấp sau ông Bí thư. Vợ Quắc cầm cái gậy tóc tai rũ rượi vừa lạch bạch chạy theo thằng con vừa chửi:
- Cha tổ bố nhà mày thằng giời đánh.. thằng mất dạy nhá. Mới tý tuổi đầu đã rượu chè. Giống thằng bố mày…
- Cái gì? Có việc gì mà ầm lên vậy? Ông bí thư quát.
Thằng con nhà Quắc bấu vào vạt áo sau của ông bí thư thò cổ ra trình bày:
- Con có uống rượu đâu! Mà mẹ con cứ chửi con…
Con vợ Quắc phát hiện “thằng giời đánh” đang nấp sau ông bí thư. “Á à! Mày cậy thế lãnh đạo, mày nấp sau lãnh đao. Bà cho mày biết nhá…” Vậy là chị ta vung gậy vụt tới tấp. Vụt bên trái nó lại thụt sang phải, vụt bên phải nó lại thò sang trái. Thành thử ông bí thư phải chịu trận. Ông bí thư oằn người sang trái sang phải nhưng vẫn hứng trọn nhát gậy phang của vợ Quắc. Con mẹ này đáo để thật! Không coi ai ra gì phỏng? Ông nén đau lấy hết sức bình sinh nghiêm giọng quát:
- Thôi ngay! Dạy con như thế à. Không nhớ khẩu hiệu toàn dân ra sức chăm sóc bảo vệ thiếu niên nhi đồng à? Vi phạm pháp luật à! Hỏng…
Vợ Quắc nghe ông Bí thư quát bằng khẩu hiệu mang tầm chiến lược, lại còn liên quan đến pháp luật… thì hoảng hồn thu gậy, đứng thở rồi phân bua:
- Cha tổ bố nhà nó ông ạ! Nó khốn nạn giống thằng bố nhà nó. Rượu chè bê tha. Ai đời chỉ có hơn hai chục đứa thiếu nhi đi cắm trại, mà lại toàn con gái…
- Con gái thì làm sao? Ông Bí thư cao giọng.
- Vâng… con gái thì không uống được rượu. Vậy mà có dăm sáu thằng ranh con uống hết hai bốn lít rượu! Có khiếp không cơ chứ. Không đánh chết thì để làm gì!
Thằng con vẫn cãi: “Chúng con có uống tý rượu nào mà cứ bảo uống.” Mẹ nó gầm lên, tay vung gậy ngoáy tít như Tôn Ngộ Không:
- Lại còn cãi… lại còn cãi! Bà đập chết bây giờ. Con mẹ Đễnh nó vừa bảo Trung thu vừa rồi xóm 3 đặt mua nhà nó hai bốn lít rượu mà uống hết nhẵn. Không chúng mày uống thì chó nó uống vào đấy à!...

(Ảnh mạng chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến bài viết)

... Đọc thêm!

Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

KỂ CHUYỆN TRUNG THU (kỳ 2)


(Tiếp theo)
DIỄU HÀNH:
Tùng tùng tùng… tà rùng tà rùng tà rùng… Chiều mười bốn cả xã vang lừng tiếng trống. Khắp các ngả đường từng đoàn trẻ con, người nhớn trống cờ rộn rã xếp hàng rồng rắn lên mây tấn về trường Trung học cơ sở để cắm trại.
Đoàn rước của xóm 3 xem ra rất chi hoành tráng. Cũng trống cũng cờ đàng hoàng do thằng Thịnh mượn được ở trường cấp 1. Ông bí thư chi bộ đầu hói, cổ quàng khăn đỏ, tay nhăm nhăm cái roi dẫn đầu. Cái roi của ông thỉnh thoảng lại khua lên dẹp đám đông cản đường, chốc chốc lại ông quay lại dứ dứ mấy đứa trong hàng vừa “mốt hai mốt” vừa trêu nhau. Thằng con nhà Quắc và mấy đứa con giai mồ hôi nhễ nhại, giang thẳng cánh nện chí tử vào mặt trống đeo ngang bụng. Thỉnh thoảng Thịnh chạy lại gào lên với đám đánh trống: “Đánh vừa vừa thôi! Đánh vừa vừa thôi chứ bục trống thì chết… Bục là ông bắt đền chết cha chúng mày”. Tiếp theo là bốn đứa con giai mặt nhăn nhó, vẹo vai vẹo sườn khiêng cái kiệu làm bằng gỗ dán giấy xanh đỏ lòe loẹt, buông thêm mấy dải vàng đỏ lòng thòng. Hàng thiếu nhi của xóm có hai mươi đứa toàn con gái. Bọn này đầu cúi gằm như xấu hổ, tay vung chùm tua rua giấy vàng, chân dậm nhịp bình bịch… theo tiếng còi “toét toe…toét, toét…toe toét” của hai đứa học sinh cấp ba cao kều. Đoàn diễu hành được hậu thuẫn bởi hai chục ông trung niên: sáu ông khiêng cái cổng trại bằng sắt trắng cũng dán giấy lòe loẹt, lại vài ông khiêng chậu cây cảnh, vài ông ôm lọ hoa, vài ông ôm chiếu, mấy ông vác loa thùng… trông như đám dân binh theo sau đoàn quân. Và cuối cùng là dăm cụ ông tay quặt ra sau lưng thủ con dao rựa hoặc cái búa đinh lom khom xoải chân bước cố cho kịp lũ trẻ đi nhanh như ma đuổi.
Ở nhà văn hóa xóm cũng nhộn nhịp khí thế. Ông xóm trưởng được giao nhiệm vụ chỉ huy hậu cần tay cầm cuốn sổ xăng xái đi lại như con thoi. Đến chỗ cánh đàn ông đang hì hục mài dao, ông nghiêm trang dặn dò như tư lệnh mặt trận dặn dò các sĩ quan chuẩn bị vào chiến dịch: “Này… bằng mọi giá phải đảm bảo khâu hãm tiết nhá! Cơ số phải khơ khớ đủ mỗi mâm một bát ô tô.” Ông đến chỗ các bà Hội Phụ nữ đang tíu tít rửa bát, nhóm bếp than: “Vấn đề cay cay chuẩn bị đến đâu rồi?” Bà Hội trưởng cung kính: “Rồi! Rồi ạ! Nhà Đễnh nó vừa mang đến rồi ạ”. Trưởng xóm gật gù hài lòng, tay đập đập cuốn sổ vào đầu, ông nghênh cổ ngóng tiếng loa ngoài xã. “Sao chưa thấy nhiệt liệt chào mừng chi đội xóm ba mình nhỉ”. Một bà ra điều hiểu biết: “Thằng Tổng phụ trách Đội là người xóm 5 nó ghen với xóm mình nên nó không hô nhiệt liệt chào mừng xóm ba đâu mà mong”.
Nghe vậy, xóm trưởng nghiến răng: “Mẹ thằng này! Mai ông vớ được thì ông đập chết. Sao nó nhiệt liệt xóm khác mà không nhiệt liệt xóm ta?” Kể ông tức cũng phải, cái sự “nhiệt liệt”không công bằng có thể làm mất khí thế quân của ông mấy ngày tập luyện và chuẩn bị.

DỰNG TRẠI:
Ông Bí thư cổ quàng khăn đỏ ngồi trên ghế đại biểu thỉnh thoảng lại vuốt vuốt cái đầu hói bóng, mãn nguyện nhìn xuống đám trẻ con cả xã đang hàng lối chỉnh tề nghe diễn văn khai mạc. Kỷ luật nghiêm có khác! Lũ trẻ xóm ông ngồi im thít trong đó các xóm khác chí chóe trêu nhau. Vậy là nhất về cái khoản xếp hàng.
Lại còn cái kiệu của mình nữa chứ: nó lộng lẫy nổi bật so với các xóm khác. Này nhé: bằng gỗ dổi nghiêm chỉnh, mái cong cánh phượng, cột trong cột ngoài chạm trổ tứ linh… lại còn chăng đèn kết hoa thả xúc xích giấy màu, dải đỏ vàng buông rủ. Chả như các xóm khác kiệu gì mà lấy cái ghế mây đặt lên cái bàn rồi dán giấy xanh đỏ… Thật chả ra làm sao! Ấy vậy mà có đứa còn nói đểu bảo rằng kiệu của xóm ông trông như cái long đình rước vong đám ma. Đúng là cái loại chưa thấm nhuần tiêu chuẩn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, chả hiểu biết gì sất… Quả là ông có lấy mấy cái bức trướng đám ma làm dải lụa trang trí, nhưng đã lột chữ “Thiên thu vĩnh biệt” rồi thì ai biết. Nhẽ ra phải biểu dương tinh thần tiết kiệm là quốc sách hàng đầu ấy chứ lị...
Một cái đập vào vai làm ông giật nảy mình. Ngoái lại thấy thằng Thịnh vẻ mặt nghiêm trọng ghé vào tai: “Chú ra ngay giải quyết”. Vừa đi thằng Thịnh vừa bảo: “Các cụ đang cãi nhau”. Giời a! Mấy chục ông thì làm cả cái nhà còn được, thế mà làm có cái trại trẻ con cũng cãi nhau. Hai cái vỏ chăn căng lên là xong! Đến chỗ trại thấy ba bốn cụ người giơ dao rựa, người vung búa đinh chia thành hai phe đang gườm gườm thủ thế. Một cụ ngồi phệt xuống đất văng: “Đút con c… vào làm nữa”. Lại phải nịnh các cụ hãy vì tương lai con em xóm ta… mới vãn hồi hòa bình nhưng nghe chừng vẫn còn hậm hực.

(Còn nữa... ngày mai đăng tiếp)

(Ảnh mạng- chỉ có tính chất minh họa, không liên quan đến bài viết)
... Đọc thêm!

KỂ CHUYỆN TRUNG THU .

Nhân Tết Trung Thu, mình viết cái chuyện Trung Thu ở làng quê cho vui... Vừa viết vừa đăng nên không kịp sửa. Câu cú từ ngữ chắc nhộm nhoạm. Nhưng cứ đăng kẻo... hết Trung Thu. Bạn đọc thông cảm.
TẬP HỢP:
Ông bí thư chi bộ vuốt vuốt cái đầu hói, e hèm ba phát rồi trịnh trọng:
- Kính thưa… à quên… Thưa các cháu thiếu niên xóm ta… Thằng kia! Mày cười cái gì. Con nhà Quắc phải không? Ông bảo bố mày nó đập chết bây giờ. Ngồi im để tao nói tiếp… Thưa các cháu thiếu nhi! Từ ngày xửa ngày xưa Bác Hồ đã dành riêng rằm tháng tám cho trẻ con. Rằm tháng Tám là ngày gì các cháu biết không…
Khán giả ngồi nghe ông nói cỡ hơn hai chục đứa trẻ con mười hai mười ba tuổi. Giai có, gái có. Nhưng con gái đông hơn… Chúng ngồi lổm ngổm chẳng ra hàng ra lối gì ngay trước mặt diễn giả.
Một con bé nói vóng lên: Là Trung thu ạ! Mấy đứa khác cũng nhao nhao: Trung Thu ạ! Trung thu ạ …
Thằng con nhà Quắc lợi dụng lúc bọn con gái đang đua nhau hớt hóng nói đuôi thì tranh thủ đấm cho thằng ngồi đằng trước một quả vào vai. Thằng này khóc rống lên. Ông bí thư điên lắm. Thanh niên chết rấp vào chỗ chát, chỗ ghêm… chỗ nảo chỗ nào để đến nỗi bí thư chi bộ hơn sáu mươi phải sang phụ trách tập luyện thiếu nhi cho rằm tháng tám. Hôm nay đã mùng mười rồi… Đến là khó bảo cái lũ mất dạy. “ Thôi đứng lên tập đi… nói chuyện với chúng mày khó bỏ mẹ!”
- Tập cái gì ạ! Mấy đứa con gái hỏi.
Ông Bí thư vuốt cái đầu hói… Tập cái gì nhỉ? Nghĩ một tý. À một tiếng: Phải rồi! Ông dõng dạc:
- Tập cái như năm ngoái!
Đến lượt bọn trẻ ngớ ra:
- Cái năm ngoái là cái gì nhỉ.
Một đứa nhanh nhảu: Tập đi đều… mốt hay mốt… Đúng rồi mốt hai mốt.
- Vậy thì tập đi! Ông ra lệnh.
- Dưng mà không có trống, không có còi…
- Không hô mồm được à.
Lũ con giai nhổm lên chạy ra khỏi hàng. Ông trông thấy gọi giật lại: “Mấy thằng mất dạy kia chạy đi đâu?” Bọn con gái lại tranh nhau hóng hớt: chúng nó về đấy ông ạ! Ơ hay sao lại về? Vì không có trống! Chúng nó chỉ thích tập trung thiếu niên để đánh trống.
Lại còn thế nữa. Ừ nhỉ! Tập thiếu nhi phải có trống. Mấy cái trống năm ngoái chúng nó đánh khỏe quá bục hết rồi. Thôi phải vào nói khó với cánh thổi kèn đám ma để mượn. Nhưng đồ nghề làm ăn của người ta thì mượn sao được! Bí…
Vừa lúc ấy thấy thằng Thịnh phóng xe máy qua. Thằng này làm thợ mộc nhưng có máu văn nghệ. Có khả năng làm phụ trách được. Thử xem! Ông gọi, Thịnh dừng lại:
- Gì vậy chú?
- Mày xem giúp chú phụ trách cái bọn thiếu nhi chuẩn bị rằm tháng tám. Chúng nó không nghe tao, mà… tao cũng đếch biết gì để bảo chúng nó. Cơ màu này khéo xóm ta bét mất!
Thằng kia ngập ngừng: Dưng mà cháu bận!
- Bận cái chó gì! Tao lạ gì cái mặt mày… có mà bận đi ve gái.
- Cháu bận thật mà.
- Bận gì… đêm hôm thì bận gì?
Biết bí thư đang bí, Thịnh thủng thẳng:
- Hai mươi đã phải trả giường cho đám cưới, quan tài lại bán hết rồi, chưa đóng kịp… Nhỡ ra có đám cần.
Vậy ra thằng này gạ tiền. Thời buổi chó chết. Chẳng có thằng nào vì phong trào. Thằng nào cũng tiền. Tiền! Loạn hết rồi. Thôi cũng đành:
- Mày cứ giúp chú, tao giả công mỗi tối năm chục.
- Nhưng mà chưa có trống, cờ…
Ông bí thư ngần ngừ một tý: Thôi khoán cả cho mày. Hết bằng nào rồi… rồi tính sau.

HỌP BÀN:
Ông xóm trưởng giang thẳng cánh đập xuống mặt bàn ình ình, rướn cổ nói sùi cả bọt mép:
- Đề nghị trật tự. Trật tự! Thật không ra cái thể thống gì cả, chả ai nói ai nghe. Thưa bà con! Hôm nay tập trung cả xóm tại đây để chuẩn bị cho Trung thu rằm tháng tám. Hội đồng xóm đã họp và quán triệt mục đích xã hội hóa phong trào thiếu niên nhi đồng…
- Tôi có ý kiến! Một ông mặc quần đùi mặt đỏ phừng phừng giơ tay.
Tất cả nhao nhao: “Thì để cho xóm trưởng nói hết đã…”, “Đúng đấy! để người ta nói hết đã”
Ông mặc quần đùi không chịu:
- Lão ấy nói dài bỏ mẹ. Đến đếch lúc nào cho xong. Việc gì phải xã hội hóa xã hội hiếc. Cứ bổ vào đầu mẫu…
Lại nhao nhao: “Phải đấy! Phải đấy! Cứ bổ đầu mẫu là xong!”
Mấy bà ngồi góc dưới cãi lại:
- Bổ là bổ thế nào! Nhà không có trẻ con cũng phải chịu à! Tôi đề nghị nhà nào có trẻ con nhà ấy phải đóng góp.
Tự dưng thành hai phe. Phe bổ đầu mẫu lí sự tất cả vì tương lai con em chúng ta nên tất cả đều phải có nghĩa vụ. Cấy ruộng thì phải đóng góp. Còn phe kia bảo làm như vậy là không công bằng, ai ăn thì phải tiền đóng gạo góp. Hai phe cãi nhau ỏm tỏi. Ông xóm trưởng nghệt mặt đứng… không biết nghe bên nào. Đành gọi ông phó bí thư và ông xóm phó hội ý.
Cả xóm lặng im cố nghe ba ông thì thào. Hồi hộp chờ đợi như thể chờ kết quả thi hoa hậu. Khi ông xóm trưởng ngẩng đầu lên thì hàng trăm con mắt dồn vào chờ đợi dò hỏi.
Ông xóm trưởng trịnh trọng:
- Sau khi tham khảo ý kiến của cả xóm, hội đồng xóm đã đi đến nhất trí: các chi phí cho trại, cho làm kiệu, nói chung là các chi phí sẽ bổ đầu mẫu. Còn các cháu nào đi dự trại thì gia đình phải đóng góp theo tiêu chuẩn mỗi cháu bốn nhăm nghìn với một nắp phích gạo. Thế nhá. Bây giờ ta sang phần phân công.
Mọi người chưng hửng còn định bàn tiếp nữa. Nhưng xóm trưởng đã chuyển sang mục phân công rồi thì lại phải nghe. Nghe thì nghe nhưng vẫn ấm ức, vẫn xì xào…nên xóm trưởng vừa phân công vừa đấm mặt bàn để giữ trật tự.

(Mới viết được đến đây. Muộn rồi, mai viết tiếp...Bà con thông cảm!)

.... Đọc thêm!

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

NHÀ VĂN LÊN PHỐ (kỳ cuối)


(Tiếp theo và hết)
Đoạn đường từ bến xe đến tòa soạn Thời Cuộc không phải là ngắn. Hắn cứ cắm cúi đi cho đến khi thấy bóng mình in trên mặt đường mới nhận ra thành phố đã lên đèn. Một mình lạc lõng giữa ồn ào xe cộ hắn bỗng thấy sợ. Giả sử có một cái xe mất tay lái... mình có bị làm sao... thì vợ con không biết, không ai biết... thì cũng chỉ như một kẻ ăn mày... Vô nghĩa, vô nghĩa hết! Tự nhiên thấy thèm người. Thèm có một người để tâm tình, chia sẻ... Nhưng ai có thể tâm tình chia sẻ. Mà đêm nay mình sẽ ngủ ở đâu. Lại vạ vật vỉa hè sao? Hắn lục túi tìm tờ giấy ghi số điện thoại của bạn bè. Trần Văn X... Điện thoại: 0483... Đây rồi. Sao mình vô tâm, anh ấy mấy lần hẹn nếu có dịp lên Hà Nội thì vào nhà chơi...
Hắn vào một dịch vụ điện thoại gọi đến nhà ông X.
Người nhà nghe máy rồi bảo ông X không có ở nhà. Hắn hỏi thêm thì mới biết ông đang nằm viện. Ung thư giai đoạn cuối. Vậy là hắn đến Bệnh viện. Ông X là nhà thơ. Sở dĩ hắn biết ông vì ông là người cùng quê, trước cùng sinh hoạt trong Hội Văn nghệ tỉnh sau chuyển lên Trung ương. Cả hắn và ông cùng là đệ tử Lưu Linh, cùng thích văn chương nên thân nhau. Hắn kính trọng ông là đương nhiên vì ông có thực tài và sống rất chân tình. Còn ông quý hắn bởi hắn thật thà và thương hắn bởi hắn nghèo. Thỉnh thoảng gặp nhau hay khi ông đến nhà chơi thường dúi cho hắn mấy chục. Chẳng nhiều nhặn gì vì ông không giàu, nhưng vợ chồng hắn rất cảm động. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. San sẻ cho nhau chút đỉnh là cho nhau niềm vui, động viên nhau tinh thần là chính để mà tồn tại. Có lẽ chỉ những nhà văn mới làm được như vậy.
Ông Nhà Thơ mừng đến rưng rưng khi được nhà văn xóm đến thăm. Khi một mình đối đầu với cái kết cục tất yếu của kiếp người thì người ta cảm thấy mọi sự chăm sóc thăm hỏi của đồng loại là thiêng liêng. Hắn cũng đọc được trong mắt ông sự cố gắng níu kéo đến tuyệt vọng. Hình như hắn đến làm ông có thêm nghị lực để hy vọng. Hắn biết điều ấy nên cố gắng làm cho ông vui và bảo rằng bệnh tật của ông chỉ là ốm xoàng, một trận cảm vặt. Tếu táo và trân trọng, hắn kể với ông cái việc phải lên thành phố. Nhà Thơ chăm chú nghe nhưng lộ vẻ mệt mỏi. Nhận thấy điều ấy, hắn hỏi ông: Anh mệt à. Bây giờ anh thèm cái gì nhất? Ông thều thào: Rượu! Nhưng chúng nó không cho uống... Mình cũng chả dám đòi... Mọi người trong nhà đang cuống lên chạy tiền thuốc cho mình mà mình lại đòi rượu nữa thì nhẫn tâm quá... Tưởng gì! Hắn hăng hái đi mua một chai rượu. Cẩn thận hắn rót rượu vào cái chén nhỏ. Nhà Thơ run run nâng cái chén, mắt nhìn sâu vào những giọt rượu trong vắt. Ông đưa chén rượu lên ngang mặt, tận hưởng mùi thơm quyến rũ và từ từ đưa chén chạm môi. Môi ông như được men rượu làm hồng lên. Mắt ông nhắm lại. Những giọt rượu được ông giữ lại trong miệng một tý để tận hưởng vị cay nồng rồi mới nuốt. Một tiếng khà nhè nhẹ nhưng hẫng. Hắn biết tiếng khà là thói quen của những người uống rượu. Có lẽ Nhà Thơ kìm tiếng khà ấy lại vì ông không muốn nó mang đi hương vị của những giọt rượu đang đọng trong cổ họng. Tuyệt vời! Hắn ngắm Nhà thơ uống rượu mà rưng rưng. Đời hắn cũng đã uống không phải là ít rượu. Nhưng hôm nay hắn mới tận mắt chứng kiến sự hoan lạc đến tột đỉnh của người uống rượu. Này chú! Ông nói, giọng trong hơn- Buồn cười thật đấy. Để kéo dài sự sống thêm mấy ngày, người ta bắt mình phải đoạn tuyệt với những cái gì mà mình thích. Thêm mấy ngày nhạt nhẽo vô vị ấy thì phỏng có ích gì. Còn khổ hơn cái chết. Vậy thì việc gì phải kìm hãm. Tuyệt thật! Chú cho tôi xin tý nữa. Hắn rót thêm một chén. Vẫn những động tác như vừa rồi, nhà thơ uống và khà. Lần này thì tiếng khà thoát ra thoải mái hơn. Mặt ông hồng lên. Cặp mắt linh hoạt như người không hề có bệnh. Phấn khởi vì những thay đổi đến bất ngờ ở Nhà Thơ, hắn hỏi: Anh còn nhớ câu thơ: Nếu ngày mai tôi chết... Vừa đọc được một câu hắn đã thấy mình hớ. Ai lại đi nói về cái sự chết chóc với người đang trọng bệnh. Nhưng Nhà Thơ nói ngay: Nhớ chứ! và ông đọc liền một hơi Nếu ngày mai tôi chết. Thì chẳng mong gì hơn. Âm thầm một giọt lệ, rỏ xuống những nguồn cơn.‘*’ Những nguồn cơn... Ông lẩm bẩm. Những nguồn cơn... Mày sướng nhất đấy em ạ! Tự nhiên ông thân mật xưng hô mày tao. Cái việc mà mày vừa nói chứng tỏ mày đã làm được việc mà không phải ai cũng làm được. Thứ nhất: cái thằng mà nó lấy cắp truyện của mày là người tri âm với mày rồi. Mày hỏi vì sao à? Để anh nói cho mà nghe. Trước hết là nó đã công nhận cái truyện của mày, nó thích cái truyện của mày. Thích quá, nó mới lấy cắp. Chả có ai lại đi lấy trộm cái mà mình không thích. Nó lại dám thay tên tác giả, thế tên nó vào tức là nó đã dám thừa nhận ý của mày trùng với ý của nó. Thứ hai: Thằng Thời Cuộc nó đăng truyện ấy lên là nó đã công nhận giá trị của truyện. Một cái truyện mà hai thằng báo to cùng công nhận, cùng đăng thì tuyệt quá rồi còn việc gì phải băn khoăn. Thứ ba: viết ra được nhiều người biết đến là tốt quá. Chính mày viết xong mày cũng chẳng quan tâm số phận của nó như thế nào sau khi gửi đi. Có người bảo mày mới biết cái vụ này. Đã có người đọc quan tâm đến mức ấy là hạnh phúc đấy em ạ!... Nhưng mà em tức lắm! Tức không chịu được vì nó dám thay tên tác giả! Vậy là mày lại háo danh rồi. Viết mà người ta đọc, người ta chiêm nghiệm, chia sẻ và đồng cảm với điều mình viết là được rồi. Cái tên nào thì cũng vậy thôi. Để người đọc người ta nhận thấy gì sau trang viết ấy mới là quan trọng. Viết để có cái danh thì chẳng để làm gì. Đấy mày xem. Có những người nổi danh nhà văn lớn nhưng có gì đáng để đời. Viết xong tung hô một thời rồi sau đó mấy ai nhớ đến. Mà cũng lạ. Viết văn cũng có nhà văn lớn, nhà văn bé, nhà văn chuyên nghiệp, nhà văn nghiệp dư... Chả phải cũng phân chia đẳng cấp những người viết hay sao? Không có đẳng cấp nào hết. Chỉ có tác phẩm hay và tác phẩm không hay. Nhà văn lớn mà đẻ ra cái tác phẩm dở thì dù tung hô đến mấy cũng đáng vứt vào sọt rác. Đấy là chưa kể các ông ấy còn viết để công kênh cho mình. Nói thẳng là viết vì danh để rồi văn chương nhạt hoét, khoa trương cái này cái nọ, nhân danh cái này cái nọ... Em có cảm giác là nó xỏ lá em, làm cho em bị phạm quy trong cuộc thi truyện ngắn lần này. Quên đi! Hy vọng được giải thưởng ư? Nghiệm ra rằng những tác phẩm để đời chưa bao giờ được nhận bất cứ giải thưởng nào. Vì sao? Chắc mày thừa biết. Thế thì sao lại lao tâm khổ tứ vì nó. Tác phẩm đã được đăng, đã được công chúng chấp nhận thì bây giờ nó là của công chúng, không còn là của riêng mình nữa. Cái gì còn lại là của mình, mình phải đòi. Nhuận bút chẳng hạn, đó là công sức của mình, mình phải đòi. Thế thôi! Nói một hồi, nghe chừng nhọc. Ông ngồi im như tiếc nuối, như hờn dỗi. Hắn lại rót chén rượu đưa ông, rồi với bản tính tếu táo hắn đọc: "Nếu ngày mai tôi chết, thì chả mong gì hơn, đổ đầy quan tài rượu, rồi chôn đâu thì chôn"! Hay! Nhà thơ vùng dậy cười ha hả... Nét cười sảng khoái sáng bừng lên trên khuôn mặt u ám.
Đêm ấy hắn ở trong bệnh viện cùng với Nhà thơ.
*
* *

Hôm sau hắn lại đến Tòa soạn báo Thời cuộc. Cô Biên tập con cháu Tôn Ngộ Không đi ủng xỏ dây dẫn hắn xuống Phòng Tài vụ nhận tiền. Cô tài vụ bảo báo mới ra chưa có nhuận bút. Hắn khùng lên: vậy thì tôi sẽ kiện. Cô Biên tập vội vàng chạy đi vay tiền đưa cho hắn. Thôi anh cầm tạm. Bài của anh, chúng em đánh giá là bài hay nhất và trả nhuận bút mức cao nhất của báo. Chúng em sẽ làm theo yêu cầu của anh. Lần sau nếu có bài anh gửi trực tiếp cho em. Mong anh hợp tác. Hắn nghĩ cũng chẳng có thể hơn và có hơn cũng chẳng làm gì. Hắn cảm ơn và cầm tiền. Thôi đành vậy!
Đã định về ngay, nhưng vẫn băn khoăn... hắn ngược vào Bệnh viện để chào Nhà Thơ. Có cảm giác đây là lần gặp sau cùng. Bàn tay Nhà Thơ nắm lấy tay hắn như không muốn rời. Hắn mở số tiền vừa nhận cùng với số mang đi còn lại, lấy riêng ba trăm để trả cho vợ và tính toán vừa đủ đi xe về đến nhà; Số còn lại hắn đưa cho Nhà Thơ: Em có mấy đồng biếu anh để anh bồi dưỡng. Anh thông cảm. Nếu có điều kiện vợ chồng em lên thăm anh sau... Nhà Thơ bật khóc. Hắn cũng khóc rồi vội vã lau nước mắt để ra về vì sợ dùng dằng thêm tý nữa thì hắn cũng khó lòng về nhà trong ngày được.
*
* *
Khoảng một tuần lễ sau, vẫn ông bạn viết hôm nào lại mang tờ Thời Cuộc đến nhà hắn. Đây, báo nó đã đính chính rồi ông ạ. Đâu! Chỗ nào! Rà mãi, rà từng dòng đến trang bảy mới thấy một cái mẩu nhỏ xíu nằm dọc ở góc cuối. Hắn phấn khởi xem xong đưa cho vợ. Vợ hắn bảo: Lãi to rồi. Hắn ngơ ngác: Lãi cái gì? Vợ hắn thản nhiên: lãi được cái Đính chính! Chuyến đi của ông lãi được mỗi cái Đính chính. Hắn lấy thước ra đo cái lãi của mình: bề ngang đúng hai phân, bề dọc năm phân... Vợ hắn còn cẩn thận hơn, thị đếm từng chữ và hùng hồn công bố: vừa hai mốt chữ (!)
Buổi chiều, đứa cháu nhà bên chạy đến bảo chú sang nghe điện thoại. Lúc về hắn ngồi khóc. Vợ hắn đi làm về thấy hắn đần mặt, mi mắt mọng nước liền hỏi: sao có việc gì mà sụt sùi? Anh X mất rồi! Vợ hắn lặng người. Lúc nào? Anh ấy mất lúc trưa nay. Chị ấy mới điện cho biết. Vậy sao ông vẫn còn ngồi đây? Hắn không nói gì. Vợ hắn vào buồng lục sục một lúc rồi cầm cái gói tiền ba trăm đưa cho hắn: Mình đi Hà Nội luôn đi! Lên trên ấy cho có anh có em. Giá mà tôi cũng đi được... Vợ hắn rơm rớm nước mắt: Thôi cứ nói với chị ấy thông cảm cho tôi. Mình đi ngay đi...



‘*’ Thơ của Nguyễn Mạnh Chính

(Ảnh lấy trên mạng chỉ có tính chất minh họa- không liên quan đến bài viết)
... Đọc thêm!

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2011

"TỰ THIẾN"



Tối nay mình vừa ở trường về, đã thấy ông bạn “Đếch nói nữa…” đợi ngay ngoài ngõ. Lại có chuyện gì nữa đây. Mình vội dừng xe, tắt máy… Ông bạn nắm lấy tay lái xe của mình, mồm hỏi dồn dập:
- Này tại sao lại “thiến” gọn cái bài truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”?
Tay này thính gớm! Chợt nhớ ra hắn có thằng cháu ngoại vừa vào học lớp 6. Mình giải thích ngay rằng nào là phải giảm tải để vừa sức học sinh nên phải cắt đi một số bài, nào là ở lớp 1 các cháu được nghe chuyện kể rồi, nào là… Hắn ngắt lời:
- Thôi được rồi! Cứ cho là ông đúng. Nhưng lớp một thì nó chỉ nghe chứ nó hiểu đếch gì. Vậy tôi hỏi ông tại làm sao mà người Việt mình đặt ra cái truyền thuyết con Rồng cháu Tiên?
Mình trả lời là dân tộc mình đặt ra như vậy để khẳng định mình là dòng giống cao quý.
- Được! Hắn gật gù- tôi hỏi ông tiếp: vậy khẳng định mình là giống dòng cao quý để được cái gì?
Thằng này lục vấn mình như trẻ con. Ông đếch thèm trả lời. Mày muốn nói gì thì nói. Mình gạt tay hắn và thong thả dắt xe vào nhà. Hắn vẫn chưa chịu buông tha:
- Không trả lời được phải không? Đây này tao nói cho mà nghe: Khẳng định con cháu giống dòng cao quý để muôn đời người Việt phải nhớ lấy điều này: đừng bao giờ chịu hèn kém, đừng bao giờ khom lưng quỳ gối, đừng bao giờ cam chịu làm nô lệ. Hiểu chưa?
Cái ấy thì ai chả biết! Sao hôm nay thằng cha này tinh tướng thế nhỉ. Cứ để im cho hắn nói cho hả… Thực lòng mình cũng không biết câu chuyện của hắn chạy đi đến đâu. Nhưng không nói cũng không được. Vậy mình phải “phản biện” một tý:
- Cứ suy luận kiểu của ông thì không học “con Rồng cháu Tiên” thì con cháu mình sau này sẵn sàng khom lưng quỳ gối à. Chỉ dớ dẩn!
- Tao lại vả vào mồm bây giờ! Nói như vậy là nói cùn. Nhưng tao lại nghĩ khác: Không cho học tức là khác nào bảo với mọi người là ngày xưa nói khoác chứ dân mình hèn kém, sẵn sàng nô lệ, thủ tiêu đấu tranh… trong cái lúc nước sôi lửa bỏng bạn vàng chiếm đất, chiếm đảo, lấn biển… Rồi mai ngày nó nuốt gọn chứ chả chơi… họa tai nhãn tiền.
Lại bắt đầu lên cơn. Mình bịt mồm hắn lại: “Con lạy bố! Người ta nghe thấy lại chết bây giờ.” Trái với mọi lần, hôm nay hắn càng hăng hơn:
- Chuyện bà Âu cơ đẻ ra một bọc 100 trứng, nở thành 100 người con. 50 theo Mẹ lên rừng, 50 theo Cha xuống biển… dựng nên nước Việt… Cho trẻ nó học thì nó mới hiểu chữ “Đồng Bào” cũng từ cái tích ấy mà ra. Nhờ cái chuyện Con Rồng cháu Tiên, nhờ cái chữ “Đồng Bào” mà từ mấy nghìn năm nay người Việt nghĩ mình chung một gốc để biết thương yêu nhau, sinh sống, phát triển và giữ yên bờ cõi. Người Việt ai mà không nhớ câu:
Khôn ngoan đá đẩm người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau!
Hay là mấy ông Tiến sĩ thiến sót ở Bộ Dạy học cho đây là truyền thuyết nhảm nhí, chẳng hay bằng mấy truyện Tàu… Hay là nghe người ta muốn vứt luôn chữ “Đồng Bào” để rồi mất hết… Hay là muốn để cho vừa lòng ai… Hay là… Hay là…
Giời ơi! Phải chăng ta đang "tự thiến” để sau này tuyệt tự…
Ơ cái thằng này hôm nay lạ thế: nói rõ một lèo, giọng điệu cảm thán như thể nhà văn. Hay phết! Mình đang định khen hắn một câu thì thấy hắn trợn mắt:
- Mà giáo viên các ông cũng đếch ra gì. Không biết mở mồm mà kêu à?
Mình cũng chỉ vớt vát được mỗi nửa câu: “Thì có ai hỏi…” đã thấy hắn phủi đít đứng dậy… Về!

... Đọc thêm!

BẢY MƯƠI NGHÌN TỶ MÀ CHƯA CÓ... HỒN


23 giờ ngày 07-9-2011
Mình đóng máy chuẩn bị đi ngủ. Chợt có tiếng gõ cửa ầm ầm:
- Này còn thức không đấy! Có chuyện khẩn cấp!
Mở cửa. Lại ông bạn “Đếch nói nữa…”. Mà sao hôm trước đã bảo không thèm nói chuyện với mình nữa kẻo mình đưa lên blog rồi sợ người ta quy là phản động. Vậy hắn sang đây làm gì?
Hắn xông vào nhà… ngồi phịch xuống ghế, cái mặt trông nghênh nghênh. Mình lộn cả ruột, đêm hôm khuya khoắt mà còn đến quấy rầy. Phải cố nhịn để hỏi: “Có việc gì?”
Hắn vẫn nghênh mặt hỏi ngược lại mình:
- Không mở ti vi à?
- Mở làm gì?
Hắn tưng tửng:
- Mở mà xem ngài Bộ trưởng kính yêu của các ông!
Mình hoảng hồn: “Ông ấy làm sao?”
Hắn thong thả:
-Ông ấy chẳng làm sao! Đúng hơn thì phải nói là: ông ấy không ra làm sao!
Đến là khó chịu với cái kiểu nói mập mờ của hắn. Kệ ! Mình không nói gì. Rồi hắn sẽ phải nói. Ai còn lạ gì cái mồm ba toác…
Quả nhiên chưa đến nửa phút sau hắn đã bô bô:
- Lúc nãy Vê tê vê phỏng vấn ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo về đề án cải cách giáo dục, lão ấy nói dự án ấy hết 70 nghìn tỷ và đã triệu tập một số chuyên viên để thành lập Ban chuẩn bị đề án…
- Tưởng gì! Điều ấy thì ai mà chả biết. Đài nói suốt…
Hắn ngắt lời:
- Để im tao nói cho mà nghe: Trả lời câu hỏi của phóng viên: vậy Bộ xác định: Học để làm gì? Lấy đối tượng nào làm trung tâm của giáo dục? Mô hình trường lớp ra sao- 11 hay 12 năm? … thì ngài bộ trưởng ú ớ bảo sắp bàn(!)
- Sao lại sắp bàn?
Hắn vỗ đùi:
- Thì thế mới ng…! Thôi chết! Cái mồm! Cái mồm… Phóng viên hỏi vậy phần hồn của đề án đổi mới giáo dục là gì? Ngài bộ trưởng của các ông bảo đang triệu tập các bộ phận và đã lên lịch để… họp các bộ phận, chứ nay vẫn chưa xác định được hồn…
- Giời ạ! Chưa có hồn… chưa có ý tưởng… mà đã có dự án tới 70 nghìn tỷ.
Hắn lại vỗ đùi, lần này vỗ đến ba cái:
- Thì đấy! Một lão nông dân mù chữ cần làm một ngôi nhà thì lão ta dù có dốt tính toán đến mấy cũng phải nghĩ trong đầu nhà ấy mấy phòng, mấy tầng, cho bao nhiêu người ở, nhà xây ở đâu… Xong rồi phải nhờ người tính toán hộ xem kích cỡ thế nào, thiết kế ra sao. Cuối cùng mới tính cần bao nhiêu tiền để mà lo vay chạy.
Vậy mà ngài Tiến sĩ Bộ trưởng của các ông chưa có ý tưởng gì mà đã tính được dự án 70 nghìn tỷ. Đến cái lão mù chữ nó cũng chả liều đến thế!

Mình ngọng mồm. Tự nhiên xấu hổ quá!

... Đọc thêm!

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

NHÀ VĂN LÊN PHỐ (kỳ 4)


Tiếp theo kỳ trước.
Tay bảo vệ tòa soạn báo Thời Cuộc nghi ngại nhìn một hình nhân không ra già không ra trẻ, áo quần lếch thếch, đầu tóc bù xù, loẹt quẹt đôi dép lê mòn vẹt cả mũi. Nhà văn của chúng ta xông thẳng vào tòa soạn. Này ông kia đi đâu? Đi gặp Tổng Biên tập!... Đứng lại! Xuất trình giấy tờ!... Hắn làm như không nghe thấy, vẫn xăm xăm đi vào. Tay bảo vệ hoảng hốt chạy theo ngăn lại: Văn hóa công sở để đâu. Vào cơ quan phải xin phép chứ! Hắn quay mặt lại: Sao! Phải xin phép à! Vậy ăn cắp bài, đăng bài không xin phép tác giả là văn hóa gì? Phòng Tổng Biên tập ở đâu? Thấy đối tượng chắc cũng không phải tay vừa, ít nhất cũng là cấp cùn trở lên... tay Bảo vệ dàn hòa: Thì ông cứ vào đây tý đã. Hắn vào phòng thường trực ngồi đợi. Tay bảo vệ bỏ đi vào một hành lang tối. Nhìn vào hành lang tối mờ mờ như cái lỗ lươn, tự dưng hắn ngại ngại. Người ra vào nhiều nhưng không ai để ý đến hắn. Đợi mãi chẳng thấy ai bảo sao, tay bảo vệ cũng không thấy đâu. Quái thật! Lại có cái loại văn hóa bảo khách vào phòng rồi biến mất hút con mẹ hàng lươn. Chả nhẽ cứ ngồi mãi ở đây. Thấy một cô từ trong cái lỗ hun hút đi ra, hắn vội chạy theo: Xin lỗi.. cho tôi hỏi: Phòng Tổng Biên tập ở đâu. Cô này vẫn cắm đầu đi: tầng ba! Đúng là thời đại công nghiệp. Thông tin người ta chỉ cung cấp vừa đủ, không thừa thiếu chữ nào. Nhưng thôi, hãy cứ lên tầng ba. Hắn đoán cầu thang chắc ở cuối cái lỗ hành lang hun hút. Đúng thế thật.

Tầng hai... tầng ba... Hắn đi dọc hành lang tầng ba, ngửa cổ tìm phòng Tổng Biên tập. Đây rồi. Hắn gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Phải ba lần mới nghe thấy: đang bận, hãy chờ! Chờ đến hơn chục phút thì thấy cánh cửa mở. Một cô môi son má phấn bước ra: Xong rồi, ông vào đi... Hay thật! Chả biết xong cái gì mà thấy cô ta vừa lắc mông vừa chỉnh áo. Ông Tổng đầu hói tròn như quả bưởi đang chăm chú trên máy vi tính không ngẩng đầu lên miệng hỏi: Có việc gì? Hắn trình bày. Tổng Biên tập lơ đãng nghe rồi bảo: Ông xuống tầng hai làm việc với biên tập văn hóa văn nghệ của báo. Thế nhé!
Xuống tầng hai. Lại ngửa cổ vừa tìm vừa hỏi thăm Phòng Biên tập văn hóa văn nghệ. Rồi cũng tìm được. Tiếp hắn là một cô váy ngắn chân trần, đi bốt trắng. Hắn nhìn đôi bốt thầm nghĩ: Nắng vỡ giời, nóng chảy mỡ lại còn đi ủng. Mà sao đôi ủng này lắm lỗ xỏ dây thế. Để xỏ dây buộc ủng có khi phải mất hàng tiếng đồng hồ chứ chả chơi. Tự dưng hắn liên tưởng cô này là con cháu Tôn Ngộ Không. Ừ đúng là giống Tôn Ngộ Không thật vì mặt thì bự phấn trắng vẽ vời rất cẩn thận, còn cái tai, cái cổ thì vẫn nguyên bản nâu nâu tươi màu suy nghĩ. Cô biên tập khi đọc đơn kiện của hắn lộ rõ vẻ hốt hoảng. Sở dĩ hắn biết được điều ấy vì thấy vành tai của cô ta tía dần lên theo từng dòng chữ trong đơn mà cô ta đọc được. Nếu bị phản ứng thì hắn sẽ phản công bằng các chứng cứ đã sắp xếp theo tinh thần của công ước Bơn. Nhưng không đến mức đó. Cô ta sẽ sàng: Đúng là chúng tôi có lỗi vì quá tin vào người gửi bài. Xin khất anh sáng mai chúng tôi sẽ giải quyết vì còn phải xin ý kiến Tổng Biên tập. Hắn bảo: Tôi không đợi được đến sáng mai! Yêu cầu phải giải quyết ngay! Anh thông cảm vì chiều nay tài vụ đi vắng. Vả lại anh đi mấy trăm cây số lên đây cũng phải nghỉ ngơi tham quan Thủ đô chứ ai lại về ngay. Hắn nghĩ thầm: Tham quan cái con khỉ! Tiền đâu mà tham quan? Lại còn phải chỗ ăn, chỗ ngủ nữa chứ. Đếch làm việc kiểu cù nhầy này nữa. Ông kiện lên Bộ cho các người biết tay. Vậy là hắn hùng hục ra bến xe.
Ra bến xe lại vào quán nước lúc trưa. Chủ quán nhận ra hắn ngay, vội đon đả chào mời, cánh xe ôm cũng đến hóng chuyện. Nhưng bây giờ hắn chẳng còn bụng dạ nào để tếu táo được nữa. Làm một hơi hai cốc nước chè, hắn ra xe. Nghĩ đến đoạn đường mấy trăm cây số hắn ngán ngẩm. Tống liền hai cốc nước đâm ra mót đái, hắn phải đi giải quyết cái nhu cầu không thể trì hoãn... Thoải mái quá! Nhưng vừa bước ra khỏi nhà vệ sinh thì bị một bà béo chặn lại: Tiền? Hắn hỏi lại: Tiền gì? Tiền đi tiểu chứ tiền gì. Mắt mù không nhìn quy định à. Hắn nhìn lên cái bảng sơn xanh. Thành phố hay thật. Đi đái cũng mất tiền. Hắn đưa cho bà Vệ Sinh một ngàn. Còn thiếu! Hắn ngạc nhiên: Ơ hay bảng giá quy định một ngàn, tôi trả một ngàn sao lại còn đòi nữa? Buổi trưa anh cũng vào đây chưa trả tiền. Bây giờ phải trả cho đủ! Hắn ớ ra nhưng bụng cũng phải công nhận là bà ta nói đúng. Nhưng hắn còn cố vớt vát: Buổi trưa tôi có vào đây đâu mà đòi? Gớm nhỉ! Lại còn chối. Người ngợm như hình nhân, đầu như tổ quạ, quắt queo như thằng nghiện thế kia giá có đi đâu một năm quay lại thì chỉ mù mới không nhận ra. Trả một ngàn nữa ngay kẻo không xong với tôi đâu!... Nhìn bà Vệ Sinh đẫy đà với cây chổi lăm lăm trong tay như Bát Giới cầm đinh ba thì hắn hơi hoảng. Mất thêm một ngàn nữa. Người thành phố sòng phẳng thật! Cái hay ho mình nói ra đằng mồm, người ta sướng, người ta trả công cho mình. Cái mình thải ra đằng đuôi, người ta phải dọn thì người ta bắt mình phải trả tiền. Đúng thôi! Vậy thì tại sao mình lại không thể đòi thằng Thời Cuộc phải sòng phẳng? Phải làm cho ra nhẽ chứ sao lại chịu về không. Quay lại! Vậy là hắn lại hừng hực khí thế đi bộ về tòa soạn báo Thời Cuộc.



(còn nữa- kỳ sau đăng tiếp)
(Ảnh mạng internet- chỉ có tính chất minh họa không liên quan đến bài viết) Đọc thêm!

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

HÌNH NHƯ VẪN "THIẾN SÓT"

Bộ Giáo dục- Đào tạo đã có công văn giảm tải nội dung các bộ môn. Riêng bộ môn Văn (cấp Trung học Cơ sở) Bộ đã bỏ khá nhiều bài. Hoan hô Bộ đã sáng suốt “Thiến” những vấn đề về nội dung mà giáo viên vẫn băn khoăn. Có lẽ để khỏi băn khoăn thì cứ thiến đi là cách tốt nhất.
Ở lớp 7 Bộ “thiến” gọn gàng bài “Sau phút chia ly” trích Chinh Phụ ngâm. Đỡ hẳn phải giải thích “Chàng” với “Thiếp”… và cũng khỏi phải băn khoăn có phù hợp với trẻ 12 tuổi hay không
Còn ở lớp 9 thì Bộ “Thiến” không thương tiếc đoạn trích “Mã Giám sinh mua Kiều” bởi vì có nó mà xảy ra cuộc chiến giữa “Giờ lâu ngã giá VÀNG ngoài bốn trăm” và “Giờ lâu ngã giá VÂNG ngoài bốn trăm”. Cứ “thiến” đi là hết chuyện.
Tuy nhiên mình vẫn còn băn khoăn… Hình như vẫn “Thiến sót”. Bởi vì với bài “Nguyên Tiêu” mặc dù được cho là một trong 100 bài thơ hay nhất thế kỷ nhưng nó vẫn gợn gợn sự trùng lặp câu chữ, ý tứ… của các nhà thơ lớn của Tàu và ta

Nguyên âm bài thơ như sau:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Đối chiếu với mấy bài thơ cổ thì thấy rõ điều này.

Câu 1: Kim dạ Tây Đình nguyệt chính viên
(trích từ bài “Tây Đình” của Lý Thương Ẩn TQ)

Câu 2: Nguyệt quang như thủy thủy như thiên
(trích từ bài “Giang Lâu Thư Hoài” của Triệu Hỗ TQ)

Câu 3: Yên ba thâm xứ hữu ngư châu
(trích từ bài "Thú Nhàn” của Cao Bá Quát VN)

Câu 4: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
(trích từ bài “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế TQ)
Hay: Câu 4: Quá ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền
(trích từ bài “Ngư nhàn” của Dương Không Lộ VN)

Thơ của lãnh tụ thì đã có sự đánh giá của hàng nghìn giáo sư tiến sỹ. Dù vậy cũng không ngăn được người đọc băn khoăn. Vẫn dạy cho học sinh cũng được… nhưng sau này các em lại băn khoăn như ta bây giờ. Liệu có nên chăng?

(Để rõ hơn xin các bạn xem lại bài “Cải cách giáo dục- kính cụ- còn bao nhiêu lần nữa” ở mục "Nhìn và ngẫm" trong blog này)
Đọc thêm!

NHÀ VĂN LÊN PHỐ (kỳ 3)


(Tiếp theo kỳ trước)
Giấc trưa xe mới đến Hà Nội. Đói, mệt và mất ngủ. Người hắn đờ ra. Ghé một cái quán, gọi chén nước chè cho tỉnh táo. Nhẩm trong đầu xem đã tiêu hết bao nhiêu, tính xem có nên ăn cái gì không? Nếu ăn thì nhỡ ra không đủ tiền về. Nhưng không ăn thì đói quá. Sẩy nhà ra thất nghiệp. Ở nhà, vợ ép lắm hắn cũng chỉ lưng bát cơm còn toàn uống rượu. Bây giờ hắn đang thèm rượu lắm. Nhưng còn phải làm việc quan trọng. Rượu vào người ta lại bảo là thằng say. Thằng say mà vào một tòa báo cỡ cả nước thì họ tống cổ. Nhưng làm cách nào cho hết trưa. Trong khi đang mải tính toán, hắn chợt nghe chủ quán cằn nhằn chửi vợ: cái đồ đàn bà thối thây! Giờ này không mang cơm ra để ông chết đói. Hắn bắt chuyện ngay. Ông có biết đàn bà được sinh ra như thế nào không? Đàn bà là cái rẻ xương sườn của đàn ông. Các ông nghe kinh Thánh nói vậy chứ gì. Nhưng đếch phải. Tay chủ quán há hốc mồm, cả đám xe ôm đang dài cổ đợi khách cũng tròn mắt nghe hắn diễn thuyết... Để tôi nói cho mà nghe. Ngày xưa Chúa Trời sinh ra mỗi một thằng đàn ông. Tay đàn ông ấy ở một mình buồn quá bèn xin với Chúa cho thêm người nữa xuống làm bạn. Chúa đồng ý, cho một ông thánh xuống trần gian lấy của tay đàn ông kia một rẻ xương sườn đưa về cho Chúa để Chúa nặn thành đàn bà. Thì kinh Thánh cũng nói vậy mà- mấy tay hóng chuyện nói chen. Để im tôi nói cho mà nghe. Ông Thánh được cử xuống hạ giới mò hết mọi xó xỉnh mà không thấy tay đàn ông đâu. Chả là hắn ta uống rượu say khướt rồi chui vào một chỗ ngủ líp ba ga mấy ngày liền. Thánh cũng chả tìm thấy. Chợt có một tên quỷ trông thấy Thánh. Tên quỷ này trước cũng ở trên Thiên Đường nhưng vì hắn can tội hay ngồi lê lắm điều, tham tiền, cứng cổ đến mức Chúa Trời cũng không chịu nổi nên bị đày xuống trần gian. Quỷ trông thấy Thánh thì hoảng quá, tưởng rằng Thánh tìm bắt mình để đầy xuống địa ngục. Hắn bèn chui đầu vào một quả núi nhưng lại lòi đuôi ra. Thánh cũng trông thấy Quỷ, liền gọi để hỏi xem thằng Người đâu. Quỷ khiếp quá càng chui sâu. Thánh nắm lấy đuôi Quỷ, giật mạnh. Một đằng cố chui vào, một đằng cố kéo ra... thế là phựt một phát. Quỷ chui tọt vào lòng núi. Còn lại một mình Thánh với cái mẩu đuôi Quỷ. Không tìm được thằng Người, sợ bị chúa Trời phạt, Thánh bèn dùng phép nặn mẩu đuôi Quỷ thành cái xương sườn của thằng Người đưa về cho Chúa. Chúa Trời cả tin mới nặn tiếp thành đàn bà. Vậy cho nên mới có đàn bà như ngày nay. Hố hố... há há... cả bọn cười ngặt nghẽo. Lão này cũ người mà kể chuyện hay ra phết! Tay chủ quán cũng mải nghe quên cả chửi vợ. Lúc hắn đứng lên, chủ quán đã không lấy tiền nước lại còn mời thêm điếu thuốc lá. Lần đầu tiên sử dụng cái vốn moi ra từ những câu chuyện từng đọc, thấy đạt hiệu quả kinh tế rõ rệt, hắn đâm ra hứng khởi. Ô hay, thành phố cũng chỉ như vậy thôi ư? Những chuyện như vậy có đầy trong sách. Nông thôn đã đành, làm gì có sách mà đọc. Còn thành phố, liệu có mấy người đọc sách. Vậy thì chán thật. Viết để làm gì? Khốn nạn cả đời, in mấy trăm cuốn, lỗ chỏng vó mà có mấy người đọc. Chả trách mấy ông nhà văn chuyên nghiệp cũng kêu chán. Sách bán chạy là sách dạy làm quan, sách dạy làm giàu, sách dạy cách làm tình thế nào cho sướng và... sách chế độ chính sách. Hay thật. Tập hợp các văn bản của Nhà nước, mất tý công đánh máy in thành sách, bán hàng nửa triệu bạc một cuốn. Những cuốn sách ấy lại nằm ở những giá sách sang trọng của các đại gia. Chính sách thay đổi chóng mặt. Sách in chóng mặt. Còn những chiêm nghiệm ám ảnh cả một kiếp người, những nỗi niềm nhân thế... mấy ai để ý. Cho nên mấy ông nhà văn nghèo cũng phải.
Thôi thì cũng phải ăn rồi đến đâu thì đến. Hắn thất thểu vào một hàng cơm bình dân. Lúc này cũng đã hơi quá trưa. Ông chủ nhà đang uống rượu một mình. Thấy khách đến vào cái giấc đáng lẽ phải được nghỉ nên ông ta có vẻ khó chịu, mặt mũi hằm hằm. Nghe nói ở Thủ đô cứ chủ quán nào hằm hè thì quán ấy mới đắt khách. Hắn làm như không thấy điều ấy, gọi một suất cơm canh mười ngàn. Cơm đưa lên. Quen thói ở nhà lại thèm chén rượu. Chai rượu lại để ngay cạnh. Sự cám dỗ của quỷ chiến thắng sức ép của công việc đang chờ. Thôi cũng đành! Hắn rót một chén. Nhìn lên, thấy bức trướng mừng thọ, hắn đưa đà: Cụ nhà vừa được mừng thượng thọ! Chủ nhà gật đầu. Rượu vào bốc lên. Hắn bắt đầu thao thao. Vậy là nhà ta có phúc lớn. Chủ nhà nhìn hắn hoài nghi. Này nhé! Ông có biết thiên tước là gì không. Thiên tước là tước lộc của Giời, mà Giời thì rất công bằng. Ai xứng đáng mới được, chứ không như trần thế chạy chọt cửa sau, hối lộ cửa trước mới được ban tý chức tước thì vênh mặt lên thực ra chẳng có tài cán đức độ gì. Mà người xứng đáng phải là người hiền lành tử tế thì giời mới ban cho tuổi thọ. Cụ nhà ta thượng thọ là được ban thiên tước. Các cụ hiền lành để phúc cho con cháu. Tôi nhìn ông thấy dung nhan rạng rỡ lắm, làm ăn có vẻ nhuận lắm. Ông thấy có đúng không. Nhờ các cụ đấy! Ông chủ nhà khoái quá bê cả thức ăn cả rượu sang ngồi với hắn. Được thể hắn nói thao thao. Chủ nhà há hốc mồm nghe, sướng tê người, liên tục rót rượu vào chén hắn. Nhưng vì còn công việc trước mắt nên hắn uống dè dặt. Lúc hắn ra đi, chủ nhà chỉ lấy mười ngàn tiền cơm, không lấy tiền rượu, sau đó còn bắt tay giật giật rất nhiệt tình và hẹn hò lưu luyến lắm. Hắn cảm ơn và liếc chai rượu vẫn còn nhiều mà tiếc rẻ. Giá mà không phải cái vụ văn chương thổ tả này thì có phải hơn không!
(Còn nữa,kỳ sau đăng tiếp)
Ảnh từ mạng internet chỉ có tính chất minh họa không liên quan đến bài viết Đọc thêm!

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011

NHÀ VĂN LÊN PHỐ (kỳ 2)


(Tiếp theo kỳ trước)
Hắn thủ ba trăm của vợ thật. Nhưng không phải để đi với con nào. Hắn đi kiện. Kiện một tờ báo có uy tín mãi tận Trung ương. Sự thể như thế này: Hôm qua một ông bạn viết cầm tờ báo đến nhà hắn. Chúc mừng ông! Cái Chị Lượt của ông được Thời Cuộc chọn đăng! Nhưng sao đề tác giả là Sỹ Vượng? Hắn ớ ra. Thật á! Sỹ Vượng là cái thằng chó chết nào mà lại dám lấy bài của tao. Chắc là trùng tên truyện đấy thôi. Vậy là hai ông, người đọc báo, người soát theo bản gốc. Không sai một dấu phảy. Thế là thế nào nhỉ? Truyện này hắn đã gửi dự thi truyện ngắn và đã được đăng, lại nghe loáng thoáng được vào chung khảo. Thế mà bây giờ nó ở đây với cái tên tác giả khác. Thôi chết rồi! Chắc thằng xỏ lá này làm như vậy để vu cho mình đạo văn, hoặc chí ít cũng phạm quy vì truyện dự thi không được đăng trên các báo khác. Hắn đần mặt ngẫm ngợi. Vậy thì phải kiện!
Hắn tập hợp tất cả chứng cứ khẳng định Chị Lượt là của mình và hùng hục viết một lá đơn. Mở đầu đơn kiện hắn viết rất hùng hồn: tôi được cha mẹ và nhà trường xã hội chủ nghĩa dạy rằng: ăn cắp là tội rất xấu. Của ăn cắp mà lại khoe ra trước bàn dân thiên hạ là của mình thì đó là loại vô liêm sỉ. Và tôi cũng dạy các con tôi như thế... Đại loại nội dung lời lẽ rất kiên quyết nhưng cũng không kém phần bóng bảy văn hoa để chửi thằng ăn cắp là thằng khốn nạn. Sau đó tiếp tục chửi thằng mua đồ ăn cắp. Thằng mua đồ ăn cắp là thằng ngu: ngu vì bỏ ra đồng tiền mà lại vớ phải đồ ăn cắp và hơn nữa làm báo mà không đọc báo thì bao giờ mới khá lên được. Truyện người ta đã đăng sờ sờ dự thi mà một tờ báo ngay sát nách không biết gì. Sau khi chửi thằng khốn nạn và thằng ngu xong thì hắn yêu cầu: Thằng kia phải xin lỗi, tòa soạn phải đính chính, phải trả nhuận bút cho hắn và thanh toán mọi phí tổn đi lại. Viết xong, hắn mặc quần áo, moi trong va li số tiền vừa bán gà để làm lộ phí, tranh thủ làm vài tợp rượu và ra khỏi nhà, không đợi vợ con về. Rượu vào khí thế bừng bừng, nhưng cái xe đạp cà khổ lại giở chứng, cứ vài chục vòng lại phải xuống lắp xích. Điên tiết hắn lao cái xe xuống kênh. Cần gì! Đợt này thắng kiện ông mua cái khác. Rồi hùng hục đi bộ gần chục cây số ra bến xe.

Hăng quá nên hắn quên cả thời gian. Đến bến xe mới hơn tám giờ tối mà xe chạy Hà Nội phải năm giờ sáng hôm sau mới có. Nhà văn của chúng ta buộc lòng phải nằm ở bến xe. Một tay hắn khư khư trong túi quần để chắc chắn ba trăm không bị bay mất, một tay vỗ muỗi. Gà gật rồi cũng qua đêm...

Trong khi hắn gà gật chiến đấu với lũ muỗi ở bến xe thì vợ hắn ở nhà ngồi khóc!...

(Còn nữa- kỳ sau đăng tiếp) Đọc thêm!

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

"SẴN SÀNG BẮN!" VÀ " Á ...LI BA BÀ..."

Quê mình tổ chức Tết Độc lập to lắm. Cả huyện nườm nượp kéo nhau về trung tâm để xem bóng chuyền, xem bơi chải, xem văn nghệ và xem đàn bà thổi kèn đồng…
Nhưng gay cấn nhất là cái anh bóng chuyền.
Mình cũng không máu bóng chuyền lắm. Dưng mà cũng le ve mỗi chỗ mỗi tý. Xem đánh bóng thì ít còn chủ yếu là xem… người xem.
Giời nóng cỡ ba chín bốn mươi độ, người ngồi như nêm cối trên khán đài…mồ hôi chảy ròng ròng; lại còn ầm ầm tiếng cổ động hú hét điếc cả tai.

Phía bên khán đài đối diện có hai đám đang ra sức cổ động cho hai đội. Một đám thì gân cổ hát vang: “Không cho chúng nó thoát…Hợp đồng thật hay là nắm thắng lợi ở tay…khẩu đội ta nhằm chúng nó: bắn!” Khiếp! Lôi cả bài “Sẵn sàng bắn” thời chống Mỹ ra cổ động mới ghê!
Còn đám kia thì có mấy thanh niên cởi trần giang thẳng cánh nện trống: Tùng… tùng… tùng. Một thằng đầu trọc giương cái trompet phồng mồm thổi ré lên: te te te te …tò te tí te tò te… cả đám gào lên “Á li ba bà…” chả biết vì cái cớ gì mà lại cổ động bằng cái bài “A li ba ba và bốn mươi tên cướp” trong khi dưới sân chỉ có mười hai cầu thủ mặt đỏ gay, anh cao thì cao vút còn anh lùn thì lùn tịt, lô nha lô nhô… mắm môi mắm lợi đập bóng uỳnh uỵch…

Ngồi bên phải mình là một lão cỡ hơn sáu mươi mắt hấp háy. Mình hỏi: “Ông cổ vũ đội nào?” “ Cổ vũ đội của xã tớ! Đội đỏ đấy!” và lão ta còn tự hào khoe: “Cái trống đang đánh bên kia là trống mượn của nhà thờ họ tớ đấy. Thằng con tớ là huấn luyện viên đang chỉ đạo đội bóng – Lão tự hào chỉ vào một thanh niên đang ngồi ôm một cái xô và một cái hộp xốp bán kem đang chồm chồm như cóc nhảy dưới sân - Xã tớ phải đầu tư hơn bốn chục triệu thuê ba thằng Thể công cao kều đấy- Năm trăm nghìn cho thằng thổi kèn ba trận… Oách không? Tất cả cho chiến thắng của xã mà!”. Còn bên trái mình là một tay đầu húi cua cỡ hai bốn hai nhăm ra sức gào lên “Á…li ba bà”. Vậy ra cả hai đang cổ động cho một đội.
Tay đầu húi cua đang “Á li ba bà” chợt dừng lại: “Thôi bỏ mẹ! Con vợ mình nó cũng máu quá. Mình đã bảo ở nhà với con thế mà nó đ.. chịu! Nó bê thằng bé ra bêu nắng. Giời ạ!” Theo hướng hắn nhìn, mình thấy một phụ nữ với đứa bé ngủ vắt trên vai trong khi mồm chị ta cũng đang “Á li ba bà”, chân nhảy tưng tưng…
Tinh thần thể thao cuồng nhiệt đến thế là cùng…
Lão già than thở “Khát nước quá.” Còn tay thanh niên thì bảo “Mót đái quá”. Mình muốn rộng chỗ nên bảo hắn “Thì đi mà đái, có ai cấm” Tay thanh niên bảo: “Đi cho mất chỗ à”
Nhưng rồi lão già không chịu được. Lão chen xuống phía dưới đến chỗ thằng con nói gì đấy. Chắc là xin nước uống. Nhưng thằng con lắc đầu quầy quậy. Lão tiu nghỉu lại chen lên về cạnh mình. Mình đoán thằng con không cho nên đành ôm mối hận khát nước mà về chỗ cũ nhưng chắc đã thấm nhuần tư tưởng "tất cả cho chiến thắng của xã ta" nên không nói gì. Giữa lúc ấy thì bên kia tiếng trống đang tùng tùng bỗng “ục” một cái rồi phẹt phẹt phẹt như tiếng gõ mẹt... lão già lẩm bẩm: “Thủng mẹ nó rồi”
“Khẩu đội ta nhằm chúng nó…Bắn!” “Te te te…phẹt phẹt phẹt… Á li ba bà” hai bên thi nhau hú hét rầm rĩ, dưới sân đàn ông đàn bà nhảy tưng tưng…

Nhưng mà… bên “Sắn sàng bắn” áo xanh: 16… còn bên “Á li ba bà” áo đỏ: 14. Đội đỏ bị thua điểm. Hai đội hội ý. Thằng con lão già hấp tấp mở hộp xốp bán kem lấy ra những chai nước lạnh, mở nắp cung kính đưa cho cầu thủ, rồi đưa khăn mặt ướt trong cái xô và hắn ta còn moi đâu ra cái quạt quạt lấy quạt để cho mấy anh cao kều.
Mình nhìn sang phải thấy lão già mím môi, mặt cau lại: “ Đ.mẹ đồ chó! Con với cái! Đẻ ra nuôi ba bốn mươi tuổi đầu mà nó cũng chưa quạt cho mình được phát nào! Nhìn nó cung phụng mấy thằng cầu thủ mà ngứa mắt. Nào quạt à! Nào khăn lạnh à! Nào nước đá à! Thằng bố mày khát cháy họng mà mày cũng không cho. Mẹ tổ chúng mày. Mai không bịt đền ông cái trống thì ông đào mả thằng tổ chúng mày lên …”
Trận đấu lại tiếp tục. Bên áo xanh “Sẵn sàng bắn” đã 20 còn bên áo đỏ “Á li ba bà”vẫn 14. Bên “Á li ba bà” thua là cái chắc.
Dưới sân cô vợ tay đầu húi cua vẫn nhảy tưng tưng… Thằng cha này điên tiết dứ dứ nắm đấm về phía vợ: “Thua mẹ nó rồi! Mà cái con đàn bà lăng loàn kia… mày vẫn còn nhảy được à? À… phải rồi… Ông còn lạ đếch gì cái mặt mày. Xem xét gì! Cổ vũ gì! Có biết bên nào vào với bên nào…đến sân chỉ cốt để xem đùi, xem háng mấy thằng cầu thủ... rồi về nằm mơ… Thằng bé mà ốm thì ông đập chết”. Hắn vội vã chen xuống, chắc là để chuẩn bị trừng trị “cái con đàn bà lăng loàn”.
Mình cũng không hứng thú với bóng bánh gì nữa. Thôi về! Lão già cũng đứng dậy đi theo sau. Hình như lão hậm hực lắm khi “Á li ba bà” thua trận vì nghe thấy tiếng chân lão dẫm bình bịch. Mình quay lại: Lão già nắm chặt hai tay, nói rít qua kẽ răng: “ Mẹ nó! Thể công thể kiếc mà đánh đấm như con đầu buồi! Đợi đấy! Sang năm ông bàn với Đảng ủy thuê hẳn mấy thằng tuyển Tàu về đánh cho quân “Sẵn sàng bắn” chúng mày biết mặt.”

Chen ra được đến bên ngoài sân thì mệt đứt hơi, khát khô cổ. Kiếm chỗ rợp ngồi nghỉ tí đã. Vẫn dội vào tai là tiếng ồn ào, tiếng hú hét "Nhằm chúng nó: Bắn!", tiếng "Á li ba bà" và tiếng đài phát thanh oang oang đưa tin “Đồng chí Đới Bỉnh Quốc sang thăm hữu nghị nước ta…”

(Ảnh lấy trên internet có tính chất minh họa không liên quan đến bài viết) Đọc thêm!

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

NHÀ VĂN LÊN PHỐ (kỳ 1)

Sáng nay ông bạn "Đếch nói nữa..." sang nhà mình sừng sộ:
- Này ông viết bờ lốc bờ leo gì có phải không?
Mình bảo: "Ừ cũng thỉnh thoảng viết chơi chơi"
- Có phải ông viết cả chuyện của tớ... Thấy chúng nó kháo nhau thế.
- Những cái hay hay thì viết. Có cả ông, có cả tôi...
Thế là hắn xổ ra một tràng:
- Ông viết cái gì mặc xác ông. Nhá! Đừng có dây vào tôi. Nhá! Không người ta lại bảo tôi là thằng phản động.
Mình ngớ ra: Đã ai làm gì mà bảo là phản động.
Hắn chửi ngay:
- Ngu thế! Đợi đến lúc người ta bảo đích danh như thế thì ăn cơm cân là cái chắc. Có giời cãi. Nhá! Từ nay cấm! Nếu còn cố tình có ngày tao đấm vỡ mặt. Thật đấy! không đùa đâu. Tao còn vợ, còn con.
Và hắn nguây nguẩy về.
Thôi cũng đành vậy. Từ nay thấy gì kể nấy. Mong các bác thông cảm. Lần này em xin hầu các bác truyện ngắn "Nhà văn lên phố"... Cho nó lành! Chả đụng chạm đến ai...


Ối anh ơi là anh ơi! Anh đi đâu mà bỏ mẹ con em bơ vơ! Vợ hắn tả tơi thất thểu dọc theo bờ kênh vừa nhìn xuống dòng nước vừa quệt mắt. Dưới kênh chỉ thấy có bèo ong và bèo tây lẫn lộn. Ối anh ơi anh ơi là anh ơi... Người đàn bà rên rỉ nhưng không dám khóc to. Trăng sáng vằng vặc. Có một chỗ bèo dạt ra, thấy rõ bóng trăng in trên đáy nước. Lạ nhỉ, mọi chỗ bèo kín đặc mà đây lại không có bèo, hay là ở chỗ này... Anh ơi, anh có thiêng thì chỉ chỗ để em vớt anh lên. Người đàn bà định nhảy xuống. Nhưng nhỡ phải chỗ nước sâu... nhỡ hắn kéo mình xuống thì chết cả đôi. Nhìn quanh, thị vớ được một cành chà rào. Thị đưa cành chà rào xuống cái lỗ nước nơi không có bèo. Mắm môi mắm lợi, thị rà cái cành chà rào... Hắn cũng chẳng to lớn gì, nếu hắn mà ở dưới ấy thì chỉ cành chà rào cũng có thể kéo được hắn lên. Nhưng không thấy. Vậy hắn ở đâu? Nốc cho lắm vào rồi khướt ra. Đâm đầu vào chỗ nào rồi không biết. Bà mà vớ được thì bà cho biết tay. Thơ với chả văn rồi lúc say thì khướt khườn khượt, lúc tỉnh thì như thằng mất hồn, lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác... Ôi giời ôi! Sao kiếp tôi nó khốn nạn thế hả giời... Lấy được ông chồng có nghề nghiệp hẳn hoi, lại lắm tài vặt. Ai cũng bảo là tốt số. Tự dưng đọa ra, bỏ hết mọi sự chẳng thiết làm ăn gì. Ấy là bởi cuồng lên đi viết văn, làm thơ. Rồi thì rượu. Thơ văn phải có rượu. Rượu- thơ, thơ- rượu... Mồm leo lẻo bảo rằng như thế mới là tiên. Tiên với chả Phật! Mới hơn ba chục tuổi đầu bỗng thành thằng không tuổi, đang sáu mươi cân tọp lại còn hơn bốn chục cân, vêu vao đầu gối quá tai, gầy còn hơn cả La Hán. Cả năm may ra mới được một cái truyện ngắn đăng báo, được vài trăm nhuận bút thì lấy làm khoái chí lắm. Bỏ tiền phô tô vài chục bản đem phân phát tứ tung. Lại còn bắt vợ mua rượu mua nhắm đãi bạn. Rồi cả đám, người thì trọc lông lốc, người thì tóc tai bù xù, mặt mày tái dại ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Rượu vào lời ra ngồi nịnh nhau: Tài!... tài thật! Thánh! ... thánh thật!.. Nghe mà rực ruột. Tài cái con khỉ! Tài gì mà cả năm mới được mấy cái đồng bạc còm rồi bắt vợ bỏ tiền bù lỗ. Thánh! Thánh cái giời vật! Thánh mà để người ta chửi cho chẳng bằng con chó. Chưa xong bữa đã có người đến chửi. Người chửi là cái thằng hàng xóm. Vì viết cái gì không viết lại viết về con chó chột mắt hay sủa càn, để nó nghĩ là nói xỏ mình vì thằng này cũng bị hỏng một mắt. Thật khốn nạn! Nuôi được cái lão nhà văn để rồi lỗ chỏng chơ, thiệt đơn thiệt kép lại còn bị người ta chửi cho mất mặt. Đợt này á! Bà cấm tiệt. Cứ còn ngồi mà viết, thì bà bẻ bút.

Mọi lần, thị mặc kệ hắn tít mít tối ngày. Muốn đi đâu thì đi, đi chán thì về. Muốn viết gì thì viết. Thì ngoài viết ra, hắn có làm gì đâu. Người ta làm nhà văn để nuôi vợ nuôi con. Còn thị thì vất vả đầu cúi đít chỏng là để nuôi nhà văn và một lũ con- sản phẩm của những bốc đồng sau những bốc đồng viết lách. Quán xuyến mọi việc trong nhà, làm lụng nuôi con, đối nội đối ngoại, một tay thị đảm đương. Mà có bắt hắn phải đảm đương thì hắn cũng chịu. Chỉ được cái võ mồm, nói năng thì đến cua trong lỗ cũng phải bò ra. Cái lo nhất của người đàn bà là giữ chồng. Nhưng cái việc ấy thì thị hoàn toàn yên tâm. Người chả ra hồn người, loẻo khà loẻo khoẻo lại cả tháng giời không tắm, lúc nào cũng sặc mùi rượu. Giá có động đến thì nhũn nhùn nhùn như con chi chi thì bõ bèn gì mà lo thiên hạ nó chài. Gớm! Báu lắm đấy. Ai rước hộ đi thì may quá.
Nhưng lần này thì khác. Buổi sáng, trước khi đi làm đã thấy hắn ngồi vào bàn viết, thấy hắn thở dài thườn thượt, mặt mày ra vẻ đăm chiêu. Cũng chẳng lạ gì cái kiểu dở người ấy. Trưa về, vẫn thấy hắn ngồi nguyên như cũ, chỉ thêm cái mi mắt rưng rưng. Cũng chẳng lạ, chắc là hắn đang khóc cùng nhân vật. Tự dưng tự lành tưởng tượng ra nhân vật rồi ngồi khóc với nó. Đúng là dở hơi. Cái đáng khóc chả khóc lại đi khóc cho cái mà mình tưởng tượng. Kệ! Chẳng việc gì đến thị, thị phải đi làm. Cứ ngồi đấy mà tưởng với tượng, mà khóc với mếu thì lấy cái gì đổ vào mồm. Nhưng cả nhà ăn cơm tối xong cũng không thấy hắn ló mặt về. Tự dưng thị thấy nóng ruột. Cố ngồi đợi. Nửa đêm vẫn không thấy. Thị gài cửa rồi đi tìm. Chắc hắn lại say khướt với mấy ông trong làng. Nhà ở giữa đồng vào đến làng phải đi dọc theo bờ kênh. Đi ra khỏi nhà được mấy chục bước thì thấy cái xe đạp chổng bánh sau lên bờ còn bánh trước chìm nghỉm dưới nước. Thôi chết rồi. Say quá đây mà. Vợ hắn hoảng hồn vừa vác chà rào rà dọc kênh vừa khóc...
Rà hết cả một đoạn dài mà không thấy. Yên tâm là hắn không nằm ở dưới đáy kênh. Vậy thì hắn chẳng việc gì. Không khóc nữa! Thị lôi cái xe đạp lên té nước rửa qua loa rồi dong về nhà. Hay là đi với con nào? Cái mồm tía lia như hắn thì không biết chừng lại có con dở hơi nào mê muội cũng nên... Chả nhẽ. Chả có con nào lại ngu quá ngu quẩn đến như vậy nếu hắn không có tiền. Tiền! Thôi chết rồi. Vứt xe ở sân, thị chạy vào buồng, vội vã lục cái va li bẹp. Không thấy! Mất rồi! Có ba trăm bạc vừa bán ổ gà để đóng học cho con, hắn lấy đi mất rồi. Giời ạ! Sao số tôi nó khốn nạn thế. Khốn nạn!... Sao tôi không chết đi cho rồi. Chồng ơi là chồng! Muốn gào lên nhưng sợ lũ con thức giấc. Thị giàn giụa nước mắt.
Suốt đêm ở hiên nhà, người vợ ngồi bó gối rấm rứt khóc.

*
* *

(Còn nữa- Kì sau đăng tiếp)
Đọc thêm!

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

PHẢI CÓ ĐƠN MỚI ĐÚNG LUẬT LỆ.


Hôm vừa rồi một tay giáo viên lên gặp Hiệu Trưởng:
- Đề nghị anh nên cải tiến quy trình xét duyệt khen thưởng Học sinh Giỏi.
Hiệu Trưởng phấn khởi lắm:
- Được. Nhưng cải tiến thế nào?
Tay này hùng hồn:
- Trước hết em nào muốn được tặng danh hiệu Học sinh Giỏi phải làm một lá đơn xin được xét tặng. Rồi Hội đồng Sư phạm nhà trường căn cứ vào thành tích học tập của em ấy để xét.
Hiệu trưởng ngớ ra:
- Cậu nghĩ ra cái trò này đấy à. Chỉ dớ dẩn!
Chàng giáo viên hoảng hồn vội thanh minh:
- Không phải em nghĩ ra… mà em thấy bên Bộ Văn hóa Thông tin và… nói chung tất cả các bộ kể cả Bộ giáo dục… từ xưa đến nay ai muốn được tặng danh hiệu gì, tặng thưởng gì đều phải có đơn. Bao nhiêu nhạc sĩ, họa sĩ, văn sĩ... rất nhiều các "...sĩ" công lao ngời ngời cả nước biết, ai ai cũng biết... nhưng các "...sĩ" ấy không có đơn nên không được xét thưởng
Hiệu trưởng tức quá xổ ra một tràng:
- Chú nói vậy không được. Vậy sinh ra cái anh theo dõi thi đua để làm gì. Người ta có thành tích, thì mình là người theo dõi phải có trách nhiệm đề nghị khen thưởng cho người ta chứ. Sao lại phải làm đơn! Cũng như Công an theo dõi một người, thấy có tội là bắt. Chả nhẽ khi ấy yêu cầu người ấy phải làm đơn xin cho tôi bị bắt. Vô lí ầm ầm…
Tay giáo viên vẫn còn cãi cố:
- Người bị bắt vẫn phải có đơn để “được” bị bắt vào tù. Quả là có như thế đấy ạ!
Ông Hiệu trưởng cáu:
- Ơ cái cậu này. Cố tình trêu tôi phải không. Làm gì có chuyện đó.
Tay giáo viên tưng tửng:
- Em bảo có là có! Thủ trưởng chả chịu theo dõi báo chí… Cái vụ anh chàng tên là Nhật cũng phải tự làm đơn xin vào tù đấy ạ. Rồi tự tử chết trong tù… Công an tuyên bố rõ ràng, bao nhiêu báo Nhà nước đều đăng như thế… Chả nhẽ họ nói sai… Vậy nên em mới đề xuất… Gì thì gì cũng phải có đơn cho nó đúng luật lệ!
Hiệu trưởng: "Thật á! Thật á! Vậy tay ấy có viết đơn xin tự tử không?"


Đọc thêm!