Thứ Hai, 31 tháng 10, 2011

CỤ LÝ ƠI!...ƠI CỤ LÝ...! ( phần 2)



(Tiếp theo kỳ trước)
Nhà tối om. Hắn quát: “Sao tối như đêm năm mươi thế này”. Vợ hắn lập cập chạy ra thắp nến. Xong rồi thị lại biến mất. Hắn ngồi phệt xuống nền nhà, giơ cái chân đau lên ngang mặt, với tay lên bàn lấy tý thuốc lào rịt vào chỗ đau. Rồi vẫn cái tư thế ấy, hắn gọi:
-Thằng cò đâu! Đi lấy cho tao đôi dép.
Vợ hắn lại hiện ra y như có phép tàng hình:
- Nó đang nằm khóc ở trong nhà…
- Sao mà phải khóc? Tao đã chết đâu mà phải khóc!
Miệng thì quát vậy nhưng trong lòng hắn lại thấy rưng rưng. Đúng là thằng con vừa giỏi giang vừa có hiếu. Mình chỉ bị sơ sơ vậy mà nó đã…
- Không phải- Vợ hắn thẽ thọt- Nó khóc vì thi bị điểm kém.
Hắn nhổm người, quên cái chân đang bị đau:
- Sao lại điểm kém? Loại đàn bà ngu không biết cái gì chỉ nói bừa. Điểm kém là kém thế nào?
Vợ hắn chống chế một cách yếu ớt:
- Thì tôi biết đâu đấy. Đi mà hỏi nó.
Nói rồi vợ hắn lại biến mất. Hắn hạ cái chân đau xuống, tay bấu vào cạnh bàn kéo người ngồi lên ghế. Khi cái mông đã yên vị thì cái chân đau cũng được kéo lên và cái mồm bắt đầu dõng dạc:
- Thằng cò! Ra đây tao hỏi!
Im lặng. Hắn phải ngồi đợi đến vài phút. Chưa thấy quý tử ra trình diện. Thánh chỉ được nhắc lại lần nữa. Vẫn không có hiệu lực. Hắn điên lắm rồi. Mày cậy mày giỏi mày dám kháng chỉ à. Phải cho thằng này một trận. Quên hẳn cái chân còn đau, hắn tìm công cụ để trừng phạt tội khi quân. Tìm khắp trong nhà, ngoài sân không có cái gì khả dĩ có thể làm được việc ấy, hắn hùng hục ra dãy chuồng bò. Trong nhập nhoạng, loạng quạng chân đau, hắn bước phải cái vũng nước ngay cửa chuồng. Nước bắn tung toé. Mùi khai nồng nặc. Bỏ mẹ rồi. Dẫm phải nước đái bò! Giời ơi! Cái ngón chân sao mà buốt thế, xót thế! Cơn tức nhân lên. Giật cái roi mây trên mái chuồng thường ngày vẫn dùng đuổi bò, chân khập khiễng, mặt đằng đằng sát khí, hắn quay vào nhà. Tay nhăm nhăm cái roi, hắn gầm lên vẫn cái mệnh lệnh ấy. Lần này thì mệnh lệnh mới có hiệu lực. Trong buồng có tiếng thì thào. Lát sau, thấy nhô ra một cái đầu bù xù cùng với khuôn mặt loang lổ bóng tối, hai mắt sưng húp chắc là do khóc nhiều. Quý tử của hắn nem nép ra trình diện. Phải hỏi cho đến đầu đến đũa. Không thể lơ mơ được! Dạy con là phải thế! Hắn ngồi xuống ghế. Roi mây để trên bàn- sau khi đã gạt ấm chén sang một bên.
- Mày đứng đấy! Báo cáo công khai điểm thi?
Thằng bé cúi mặt không trả lời. Hắn nhắc:
- Toán?
- Mười ạ!
- Được!- Hắn phán bằng một giọng vừa tự hào vừa kẻ cả- Lý?
- Chín ạ.
- Sao lại chín? Nhưng cũng tạm được- Cái giọng hắn chùng xuống một tý-Vậy còn Hoá? Hoá được mấy?
- Hoá cũng được chín.
- Chỉ có vậy thôi à! Tao tạm chấp nhận. Có thể còn sai sót tí chút- Hắn lúc lắc cái đầu ra vẻ am hiểu và thông cảm- Lần sau phải nghiêm túc rút kinh nghiệm. Thế còn Văn?
- ……..

Chát! Hắn vung cái roi mây quật xuống mặt bàn. Mặt bàn rung lên bần bật. Cốc chén va vào nhau canh cách.
Cậu quý tử vẫn đứng im, mặt cúi gằm. Nhìn thấy cái dáng như vậy của con, hắn thấy nó hèn hèn. Cơn giận lại trào lên, hắn thẳng cánh với người vụt vào mông thằng bé:
- Tao hỏi, mày dám không trả lời hả? Không có quân trị quân nhậm gì nữa hả? Mày có nói không? Văn được mấy? Nói!
Thằng bé co dúm người lại, hai tay xoa mông. Cái đòn trừng phạt bất ngờ làm cho nó không kịp đỡ. Đành phải nói thôi. Không chừng cái roi…
-Văn được… có… có ba.
Hắn tưởng nghe nhầm. Hỏi lại. Nhưng khi đã được khẳng định là tai hắn vẫn còn đủ độ thính cần thiết thì hắn uất lắm. Bọn đệ tử vừa mới khen xong, hắn cũng vừa vênh mặt tự hào với chúng nó xong. Nhục quá! Thế nào ngày mai bọn nó cũng ra vẻ an ủi mình. An ủi đấy nhưng hắn chắc bọn nó đang sướng thầm: vậy ra quý tử của đại ca cũng chẳng hơn gì. Con em trong ngành ta đều thế cả! Dưng mà thằng con hắn có bao giờ bị điểm kém môn văn? Rồi hắn hỏi một câu vô lý mà nếu có bắt hắn trả lời thì hắn cũng chịu: “Tại sao lại chỉ có ba?” Để chữa cái vô lý ấy, hắn hỏi tiếp: “Tại mày không học hay tại thầy giáo chưa dạy?”
- Không phải tại con không học, cũng không phải thầy giáo chưa dạy.
- ? ? ?
- Tại đáp án! Ra đề một đằng, đáp án một đằng!
Hắn hiểu lơ mơ hình như đáp án là cái câu trả lời cho cái đề bài để người ta dựa vào đấy mà chấm bài. Nhưng làm gì có chuyện ấy được. Theo như ông hiệu trưởng nói hôm họp Ban Đại diện phụ huynh thì Phòng Giáo dục ra đề thi cuối năm học…
- Trên Phòng toàn là người đầu óc thông minh sáng láng, đã tốt nghiệp Đại học, trên cả Đại học, học hành tốn kém cơ man cơm gạo… Chả nhẽ người ta lại dốt tới mức cái đề thi của thằng trẻ con mà lại trả lời sai? Láo! Thằng này láo. Học đã không ra gì lại còn bao biện đổ vấy lung tung. Mất dạy này! Mất dạy này! Mất dạy này!...
Mỗi câu “Mất dạy này!” là một lần cái roi vụt xuống. Thằng bé oằn người, cuống quýt lấy tay đỡ. Nhưng nó không khóc....

Còn nữa- kỳ sau đăng tiếp

(Ảnh mạng- không liên quan đến bài viết)

... Đọc thêm!

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

CỤ LÝ ƠI...! ƠI CỤ LÝ!... (truyện đăng nhiều kỳ)


Truyện này mình viết về nghề dạy học. Nó hơi khô. Thôi thì mời các bạn xem tạm...

Mất điện. Bữa nhậu góp cũng đến lúc phải tàn. Mọi người giải tán. Hắn ngật ngưỡng về nhà, vừa đi theo kiểu vặn thừng vừa huýt sáo. Lòng lâng lâng. Vui, vui sao quá sá là vui…Bữa rượu tối nay thế mà vui. Đứa góp rượu, đứa góp nhắm. Hắn góp một cái đầu bò. Chỉ mất cái đầu bò mà lại được đàn em nức nở khen đại ca hào phóng. Ở cái xã này chỉ có đại ca là búa bổ. Này nhá: về nghề nghiệp thì huynh đệ ta đều trong ngành kinh doanh giết mổ. Nhưng đại ca có cơ cấu làm ăn lớn. Đúng. Đúng là lớn vì đại ca kinh doanh giải phẫu đại gia súc (ấy là nói việc hắn chuyên giết mổ trâu bò). Còn bọn chúng em chỉ loanh quanh giải phẫu mấy con ỉn còi với lợn sề thải, vốn liếng lãi lờ chỉ bằng phần mười của đại ca. Về hạnh kiểm thì đại ca là người trượng nghĩa, bọn đệ gặp khó khăn là đại ca vung dao bầu sẵn sàng bảo vệ, cứ như Lục Xuân Tiên… Ngu lại còn hay nói sách! Lục Vân Tiên chứ. À vâng… đúng rồi. Lục Vân Tiên. Còn về đường thê tử thì lại càng nhất. Này nhá: đại tỷ chân dài eo dây như người mẫu chứ chả như bọn nái sề nhà chúng em béo nứt béo trương. Mẫu cái con khỉ! Chỉ được cái nước khéo nịnh, đàn bà nhà tao gầy teo gầy tóp trông như con cá khô. Thằng nào thích, tao cho không. Ấy chết! Đại ca lại khiêm tốn, bọn đệ đâu dám. Để đệ nói tiếp: Quý tử của đại ca lại học giỏi nhất trường, cứ mỗi lần họp phụ huynh nghe các thầy hết lời ngợi ca thằng bé là bọn đệ cũng thơm lây. Cháu là Tấm gương sáng, niềm tự hào của con em trong ngành. Đại ca lại còn là hội trưởng phụ huynh của lớp. Đúng là nhất đấy! Búa bổ đấy!
Hắn nghe mà nở từng khúc ruột. Mặt giãn ra, hai cánh mũi phập phồng. Đúng thật. Búa bổ thật. Thằng con hắn mới học có lớp tám trường làng nhưng bao giờ cũng đứng đầu toàn khối. Đi thi huyện còn đạt giải. Được ông Trưởng phòng tặng giấy khen. Cái giấy đó được hắn lồng khung kính treo trên cùng trong đám giấy khen đỏ rực chiếm đến vài mét vuông của bức tường gian giữa. Để mà tự hào, để mà nở mũi nở mặt. Ai đến nhà hắn cũng khoe. Mà khoe cũng phải. Con hắn thông minh tức là cái gien nhà hắn thông minh. Giống nhà hắn thông minh. Khoái thật…
Dưng mà… say quá rồi. Phải về nhà làm một giấc để 3 giờ sáng còn giết bò. Dưng mà… mất điện, nóng thế này thì ngủ thế chó nào được. Cái ngành điện đến là chối tỷ. Cắt điện nhiều là để doạ, là để chuẩn bị tăng giá đây. Lại lý do chi phí đầu vào tăng. Ông đếch sợ! Anh tăng giá điện, tôi tăng giá thịt bò! Cũng lý do chi phí đầu vào tăng. Ông chẳng thiệt. Hay thật! Chẳng có thằng nào chịu thiệt cả… Dưng mà… thằng con phải thắp nến ngồi học. Rồi thì mắt lòi ra. Rồi thì muỗi nó đả cho đến đỏ đít, sưng chân chứ chả chơi. Rõ khốn nạn! Rốt cuộc mình vẫn thiệt. Thiệt đến đời con. Cứ cái kiểu này đến cả đời cháu…

Nhìn cái bóng mình xuyệch xoạc trên đường, hắn chợt nhận ra: trăng sáng quá. Mà hình như trăng đầu tháng. Hắn ngẩng nhìn trời. Đúng thật. Trăng chưa đầy nhưng trời trong lắm. Và hắn chợt nhớ ra hình như con hắn đã thi cuối năm, sắp nghỉ hè… Việc đếch gì phải học nữa. Thôi, yên tâm. Trăng sáng thế này thì cứ thong thả mà về. Tội gì mà phải vội! Vừa đi vừa ngắm trăng cho nó sướng. Vậy là hắn ngửa mặt nhìn trăng, chân bước xiêu vẹo, miệng ngâm nga vui sao quá sá là vui…
Huỵch, hắn ngã chúi về phía trước, hai tay loạng quạng chống xuống đường. Còn may chán. Đầu, mình, tay không hề gì. Chỉ thấy ngón chân đau nhói. Thôi chết! Bị thương chảy máu rồi. Tại say quá, quên cả dép ở chỗ uống rượu. May mà cũng sắp đến nhà. Hắn vừa xuýt xoa vừa co cái chân bị thương nhảy lò cò về nhà. Không khéo long móng thì bỏ mẹ. Còn làm ăn gì được.

(Còn nữa, kỳ sau đăng tiếp.)
lưu ý: Ảnh mạng- không liên quan đến bài viết
... Đọc thêm!

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2011

VĂN TẾ GA- ĐA-FI

Thấy Mai Thanh Hải và Đinh Vũ Hoàng Nguyên "Đi viếng Ga đa phi"... Mình nhà nghèo không có tiền đành phải gửi bài "văn tế Ga đa phi" để gọi là có tí chút viêng viếng... Mượn hơi văn của cụ Đồ Chiểu, làm hơi vội.


Hỡi ơi! Li bi súng rền; lòng dân trời tỏ.

Kẻ độc tài: Bốn hai năm thỏa sức tung hoành, làm gì còn danh nổi như phao;
Một lần chui nhủi chốn cống ngầm, chết trần truồng tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:
Mắt trắng râu dê;
Mặt mày nhăn nhó.

Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;
Chẳng biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Lêu lổng suốt ngày, ăn mày ăn nhặt... bản tính biếng lười, tay chẳng muốn làm;
Cũng Xã hội chủ nghĩa dựng cờ, kết bạn lưu manh, chẳng biết khiên đao, thoắt một cái như diều gặp gió.

Chỉ một ngày tự phong thành Đại tá, bám chức quyền theo kiểu dây dưa;
Mùi độc tài vấy vá bốn hai năm, ghét dân chủ như nhà nông ghét cỏ.

Bữa thấy châu Âu phát triển, lòng ghét ghen muốn tới ăn gan;
Ngày xem nước Mỹ nể vì, tưởng mình oai muốn ra cắn cổ.

Trăm tấn vàng ra tay bòn vét, để dân đen ai oán lầm than;
Con một đàn một lũ đăng quan, cậy chức quyền ra tay khủng bố.

Nào có ai thù ai oán, mà tự dưng giết người lành đang cưỡi boing ;
Chẳng thèm nghe ngóng ngược xuôi, lại cứ cho mình thành bậc bố.
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;
Chẳng qua là một kẻ lưu manh mà lại dám ra oai hùng hổ.

Vậy nên:
Bị đè nén, lương dân bất bình đứng lên đòi nhân quyền. Tổng thống cầm đầu ra oai dẹp bỏ.
Không chịu cảnh bịt miệng bịt mồm, trí thức đòi dân chủ- Đứa tay sai độc tài thẳng tay bắt bớ.

Dân trong nhà: Giun xéo lắm cũng quằn
Nước lân bang: Bạn với kẻ du côn càng thêm xấu hổ!


Thế giới bất bình
Chúng dân bùng nổ:
Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, đâu chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi khi có đại bác xe tăng;
Trên đầu dù chỉ một chiếc khăn, chi nài sắm tàu bay tên lửa.

Chỉ trong vòng hơn tháng tấn công đã hoàn toàn làm chủ Tơ-ri-pô-li;
Sáu mươi ngày dũng mãnh truy tìm quyết lòng bắt kẻ độc tài trả nợ.

Thế rồi:

Cống ngầm- nơi xả nước phân của dân chúng trong vùng;
Lại là chốn nương thân, tổng thống nằm im sợ không dám thở.

Ăn phát đạn vào đầu mà mang nhục, chỉ một giây mà hồn vía thoát thây;
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, xác tênh hênh chẳng biết ngày nào nhập mộ.

Đoái trông từ An giê, lũ vợ con ngất ngư mấy dặm sầu giăng;
Nhìn trên in tơ nẹc, đám nữ vệ binh cận kề ngày xưa hàng hàng luỵ rỏ.

Cũng như án cướp, án gian, đây là án cho kẻ độc tài tham nhũng vô luân;
Vốn là kẻ chẳng chút lương tâm, tàn ác huyênh hoang, cho nên chết trần truồng cũng là đáng số.

Sống làm chi! Bám đuôi kẻ “Lạ”, bán đất quê hương, quên Tiên Tổ, bắt nạt dân lành, cái loại ấy càng sống càng hèn;
Sống làm chi!Tham ở ngôi cao, phè phỡn rượu Mao Đài, gái gú bất nhân, giảng đạo đức, nghe càng thêm hổ.

Hãy xem những người đặng câu địch khái, dẫu bị ép chèn mà vẫn quang vinh;
Hơn khối kẻ bán nước buôn dân, cam chịu kiếp man di, để dân chúng triệu người phỉ nhổ


Ôi thôi thôi!
Kẻ đã từng ca ngợi Ga đa phi, mồm bây giờ mau đóng lại, kiếp ăn theo từ nay nên gửi lại bóng trăng tà;
Ai đã từng hữu nghị một thời, tay bắt mặt mừng, sao chẳng chút chia buồn cho phận bạc trôi theo dòng bùn đỏ.

Ôi!
Sống mà để người lương thiện ghét căm thì sống để làm gì.
Chết mà triệu triệu người mừng reo thì kẻ ấy nhục hơn kiếp chó.
Một trận khói tan;
Khối đứa nghìn năm chắc vẫn còn xấu hổ!
Ô hô hô....!


.... Đọc thêm!

Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2011

LUẬT TÀU HAY LUẬT TA?






(NGUỒN Quê choa- Nguyễn Quang Lập)

... Đọc thêm!

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

CÂM VÀ CUỘI (Kỳ cuối)

(Tiếp theo và hết)

Có núi, có cây đa. Sao không thấy chú Cuội?
Từ tầng ba nhà ông Chủ tịch có một cái đầu thò ra. Tiếp theo là một cánh tay thò ra như vẫy vẫy hòn núi và cây đa. Dưới này Quắc thầm nghĩ: Khôn thế! Thì ra chú Cuội đã đợi sẵn trên tầng ba nhà ông Chủ tịch. Khi cây bay ngang tầm, Cuội ta sẽ leo lên. Quắc nín thở căng mắt chờ xem chú Cuội trèo gốc cây đa như thế nào. Hắn dựa vào bức tường, cố thu mình kẻo chú Cuội trông thấy…
Nhưng tại sao lại cứ roạch toạch toạch…Quắc nhìn sang: Từ cái bảng trên nóc cổng trường Trung học, một sợi dây cáp to tổ bố vắt qua đường trên lưng chừng giời níu ngọn hai cây cột sắt cao ngễu nghện đang chụm đầu choãi chân như hai cái càng vó bè, chúi ngọn sát ngay trước nhà ông Chủ tịch. Sợi cáp thẳng căng giữ cho hai cái cột đứng nghiêng nhưng vững vàng chịu sức nặng của vật thể bay. Roạch toạch toạch… Roạch toạch toạch… cứ mỗi cái roạch toạch toạch thì hòn núi cây đa lại bay lên một tí. Rồi thì hòn núi cùng với cây đa cũng lên đến tầng ba. Lại thấy lố nhố mấy bóng người kéo ngang nó vào phía sân tiền sảnh tầng ba, nơi có giàn bê tông ngang dọc phía trên. Hòn núi cùng cây đa vừa vào yên vị trong một cái bể, dây cáp trên nóc cột vừa được nới lỏng thì nghe tiếng “ình”...
Giật nảy mình. Đoạn tường Quắc đang dựa rung lên... Ngoái sang: cái cổng trường đã đổ vật xuống…
Hoảng quá. Quắc co cẳng chạy. Quên cả đói. Quên cả buồn ngủ! Quên cả thèm!
*
* *
Cái cổng của anh Quang Trung đã xây lại. Vẫn bề thế hơn anh Nguyễn Huệ. Tay cán bộ thông tin đã về. Bộ đôi câm biết nói trở lại hoạt động như xưa. Một lần cùng với tay cán bộ thông tin đi qua trường Trung học, Quắc câm chỉ tay lên trên tầng ba nhà ông Chủ tịch Thị xã, miệng ú ớ: “Cội…Cội…Hây hấm...”rồi lại hềnh hệch cười chỉ tay sang cổng trường. Hắn nói gì nhỉ? Tay thông tin nhìn theo tay chỉ của Quắc, rồi sử dụng hết công suất khả năng dịch tiếng Quắc sang tiếng ta, lờ mờ suy đoán… Chả nhẽ ông Chủ tịch Thị xã mà lại có chuyện ấy ngay tại nhà mình? Nếu vậy ta lại đến Kính thưa... Không thể được! Cái sự hây hấm của lãnh đạo nó khác. Nhưng là cái gì? Mà sao thằng dở người kia lại bảo Cội, Cội...? Thằng này thích chuyện cổ tích. Cội là cái gì nhỉ? Cội...Cuội... Nó bảo ai là Cuội? Mà Cuội với cái cổng trường bị đổ thì có liên quan gì với nhau? Hay là...
Thế rồi sự đoán mò được khẳng định một phần hôm tay thông tin nghe thấy ông Chủ tịch Thị xã mắng ông em kĩ sư xây dựng khi ông này một lần nữa lại định thanh minh về tính hoàn hảo kỹ thuật của cái cổng:
- Sao cậu bảo thủ thế! Chỉ biết tính đến lực ở trên nén xuống. Tưởng vậy là vững. Sao không tính tới khi cái bảng ở trên bị kéo lên, nghiêng đi... thì cả những trụ dưới cũng đổ theo. Làm kĩ sư xây dựng lâu năm thế mà vẫn còn ngu!...



... Đọc thêm!

Thứ Hai, 17 tháng 10, 2011

CÂM VÀ CUỘI (Kỳ 4)

(Tiếp theo Kì trước)
Cái đêm hôm thứ bảy đáng nhớ ấy, Quắc câm đã đi nằm. Từ nửa tháng trước, tay thông tin đi vào miền Nam cưới cháu. Bộ đôi câm biết nói chỉ còn một nửa, mà nửa còn lại là cái nửa câm. Thành thử Quắc bơ vơ. Khốn nạn thế, rõ trông thấy hây hấm mà không làm gì được. Thế mới hay rằng: biết đã là khó, nhưng nói ra cái điều mình biết càng khó hơn. Vậy là không kiếm được gì, thành ra đói. Đói quá khó ngủ. Lều chợ thì trống hoang trống hoác. Trời lại rét. Gió may đập phành phạch trên mái lều. Co quắp hết cỡ với cái chăn chiên mỏng mà vẫn rét nên hắn càng không ngủ được. Thò cổ nhìn ra ngoài: trăng sáng nhờ nhờ. Thành ra thấy thèm chén rượu, thèm có cái chăn ấm. Giá có một người nữa ngủ chung... Tự dưng Quắc câm ta nhớ lại những cảnh hành lạc Lam-ba-đa mà hắn được chứng kiến. Sao mà người ta sướng thế không biết. Đã có rồi mà người ta vẫn thấy còn thiếu, còn phải… Còn Quắc, hắn chẳng có gì. Dẫu câm thì Quắc vẫn là con người. Một người đàn ông hẳn hoi. Đủ bộ phận... ấy thế mà lại thiếu. Đã thiếu thì ắt sinh ra thèm. Vừa thèm cái sự hây hấm vừa thèm ăn! Trăng sáng thế kia thì phải đi. Nghiện cái vai trò thám tử rồi. Không đi thì không chịu được. Chí ít thì cũng có cái để mà hềnh hệch cười một mình. Để mà giải toả. Hắn vùng dậy, cuộn cái chăn nhét lên mái lều.Vậy là đi…
Quắc vật vờ xiêu vẹo đi trong cái đêm trăng lạnh. Hắn xuôi ra bãi biển. Về đêm, bãi vắng tanh. Càng lạnh. Hắn lại ngược về khu phố. Đèn đường tắt từ lúc nào. Có lẽ đã khuya lắm. Mọi ngày đối với Quắc thì khuya hay sớm chả quan trọng. Nhưng hôm nay thì khác. Hắn vừa đi vừa mong cho chóng sáng. Mong cho tay cán bộ thông tin chóng về… Hai tay khoanh trước ngực, mắt ngủ gà gật, hắn đi theo hình chữ chi trên mặt đường nhựa, vậy mà chẳng đụng chạm vào ai bởi đường phố cũng vắng tanh vắng ngắt. Đưa đẩy thế nào mà Quắc lại rẽ sang khu phố có trường Trung học. Ừ phải rồi! Đến cái cổng trường ấy có khi lại kiếm được mấy mẩu thuốc lá cũng nên. Bọn học sinh khi đến đấy thường hay vứt những điếu thuốc đang hút dở vào chân bờ tường gần cổng vì bị cấm hút thuốc lá trong trường. Lạnh thế này mà được hơi thuốc thì còn gì bằng. Thế là hắn xăm xăm đi đến đó.
Đến gần cái cổng thì Quắc bỗng khựng lại. Roạch toạch toạch…Roạch toạch toạch…Cái gì thế nhỉ. Hắn hơi hoảng. Nhưng cái tiếng roạch toạch toạch ấy vẫn đều đều không có vẻ gì là đe doạ. Định thần hắn nhìn quanh: Không thấy có người. Hắn nhìn lên… Ối giời ôi! Giá mà nói được như mọi người thì hắn đã kêu to lên như vậy. Nhưng hắn lại là thằng câm nên chỉ ú ớ không thành tiếng.
Một cái hòn núi biết bay! Thật! Một hòn núi to lù lù đang bay lơ lửng trên lưng chừng giời sát ngay trước nhà ông Chủ tịch Thị xã, trên núi lại có cả một cái cây cổ thụ... Hình như cây đa. Chả nhẽ… Trong cái đầu mụ mị nửa tỉnh nửa mê của Quắc tự dưng lởn vởn chuyện chú Cuội ngồi gốc cây đa. Hắn nhìn lên mặt trăng. Mặt trăng lúc này bị một đám mây mỏng che khuất nên chỉ thấy một quầng sáng lạnh. Vậy thì đúng rồi. Cây đa trên mặt trăng đang bay xuống đất…

Không phải! Hòn núi với cây đa đang bay lên. Hãi quá. Nhỡ mình bị kéo lên mặt trăng theo cây đa như chú Cuội thì sao? Quắc dợm chân định chuồn. Nghĩ đến cái lều chợ trống hoác thì hắn dừng lại. Chả sợ! Lên mặt trăng hắn sẽ đánh bạn với chú Cuội như đánh bạn với ông cán bộ thông tin. Liệu trên mặt trăng có cái hây hấm không nhỉ? Nếu không có thì lại đói. Nếu cứ phải lên thì sao? Chợt nhớ mọi người vẫn bảo hắn là người âm phủ. Mà ai người ta cho người âm phủ lên giời! Vậy là yên tâm.
Có núi, có cây đa. Sao không thấy chú Cuội?

(Còn nữa- Kỳ sau đăng tiếp)

... Đọc thêm!

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

CÂM VÀ CUỘI (kì 3)

(Tiếp theo)


Vậy mà có người biết rõ nguyên nhân cái cổng trường bị đổ!
Người đó là Quắc câm. Năm nay hắn cũng đến ba chục tuổi nhưng người bé loắt choắt như đứa trẻ mười hai. Có lẽ cái tên kèm phụ danh ấy là do ngày còn bé hắn không nói được. Cũng chẳng phải chữa chạy gì mà đến khoảng năm mười hai tuổi thì tự dưng người ta thấy hắn biết nói. Nhưng hắn không nói bằng tiếng ta mà bằng một thứ ngôn ngữ gần giống tiếng ta. Thành ra hắn nói thì chỉ mình hắn nghe. Và cũng chỉ có một người dịch được cái thứ tiếng ấy. Người đó là anh cán bộ thông tin thị xã. Nếu như không có anh ta thì Quắc vẫn là người câm. Vậy ra cái sự câm của một người là do người ấy nói bằng một thứ ngôn ngữ mà mọi người không hiểu. Do được coi là người câm và lại hơi ngố nên hắn là người thừa của xã hội trong việc học hành, việc ăn việc ở: hắn chẳng có nhà cửa, chẳng đi học, chẳng ai quan tâm rằng hắn sống hay chết. Bố mẹ hắn đã chết cả. Mảnh đất ngày xưa của bố mẹ hắn được người ta giao cho người khác để xây nhà nghỉ từ khi thị trấn lên thành thị xã. Vì vậy hắn phải tự tồn tại một cách vất vưởng. Đêm hắn ngủ ở lều chợ, ngày thì xem nhà ai có việc gì thì đến làm, nếu không có việc thì hắn lang thang ở các cơ quan xung quanh. Được cái hắn chả bao giờ lấy trộm của ai cái gì, lành tính và thích chơi với trẻ con. Hắn rất khoái nghe chuyện cổ tích. Những thằng Bờm, chú Cuội trong các câu chuyện của bọn trẻ con, hắn nghe chăm chú và hình như hắn tưởng thật. Chả biết có phải vậy không, nhưng người ta thấy hắn hềnh hệch cười vô tư lắm. Mọi người cũng vô tư khi thấy hắn. Hắn giết gà rất giỏi và bốc mả, nhập liệm người chết rất cừ. Điều đặc biệt hơn là nhớ rất kỹ ngày chết của những người trong xóm. Thành thử hắn là người không thể thiếu trong các đám cưới: vài ba chục con gà, hắn trổ tài chỉ một loáng là xong. Những đám ma thì lại càng cần hắn hơn bởi vì chả mấy ai dám làm cái việc bó gói người chết… Hắn vừa làm vừa ú ớ nói với người chết theo một thứ ngôn ngữ riêng của hắn. Còn cái việc bốc mả thì hắn độc quyền, vì ở cái thị xã này duy nhất có mình hắn dám thò tay nhặt từng cái xương người... Và hơn nữa, thấy hắn đến ngõ thì người ta nhớ ra: ngày mai nhà mình có một cái giỗ. Còn giỗ ai thì đợi hắn vào nhà. Hắn sẽ bảo mọi người bằng cách chấm tay vào chén nước, viết xuống bàn tên người mất. Mà cũng lạ, không biết hắn biết chữ từ khi nào, học vào lúc nào và ai là người dạy chữ cho hắn? Người ta gọi hắn là người âm phủ. Người âm phủ thì chỉ ma nó mới lấy. Con gái trần gian sợ hắn. Cho nên hắn không có vợ...
Một buổi sáng, người âm phủ đến nhà anh thông tin. Anh này đang ngồi ngáp vì buồn chán bởi thủng túi, mà lại đang cơn thèm rượu. Quắc hềnh hệch cười ngay từ đầu ngõ. Chàng thông tin định đuổi về. Nhưng Quắc câm ú ớ: “Hây hấm… trô hấm…” Tay thông tin lơ đãng: “Cái gì mà hay lắm, to lắm… Về đi! Chỉ dớ dẩn.” Quắc không chịu về và lại tiếp tục cái thứ ngôn ngữ quái dị: “Cổi quầng… trô hấm… trấng hấm…” “Sao mày khốn nạn thế, nhìn trộm đàn bà thay quần lại còn về khoe to lắm, trắng lắm. Xéo ngay! Tao lại cho cái tát bây giờ.” Quắc luống cuống, hắn chấm ngón tay trỏ vào chén nước viết lên mặt bàn hai cái tên và lại bảo: “Cổi quầng… trô hấm…hây hấm” rồi hắn làm cái động tác vừa ưỡn cái bộ phận dưới vừa cong mông lắc lắc như người ta nhảy Lăm-ba- đa, nhịp nhàng cong ưỡn... Tay thông tin sáng mắt: “Đi! Có rượu rồi”.

Chiều hôm ấy, hai tay: một câm, một cán bộ thông tin say nghiêng ngả mà túi vẫn còn nặng. Chả là khi nghe Quắc thông báo, tay thông tin biết ngay sự việc. Hắn đến cả hai đương sự đã cùng nhau thoát y nhảy Lăm- ba- đa tại chỗ ở cơ quan, gặp riêng từng người, ỡm ờ đưa ra cái thông tin và có cả nhân chứng xác nhận bằng cách gật đầu. Cả hai ngớ ra. Lúc họ hành lạc thì có biết Quắc trông thấy nhưng cả hai đều nghĩ: Sợ gì thằng câm! Cứ để nó nhìn cho sướng. Câm thì nói được với ai. Nhưng ai ngờ lại có người hiểu được tiếng của thằng câm. Để đảm bảo an toàn cho cái ghế và mái ấm gia đình, giữ trọn tiết hạnh, nên cả hai (Dĩ nhiên là từng người) đều có thù lao hậu hĩnh cho sự im lặng của bộ đôi câm biết nói.
Tự nhiên bộ đôi này lại có thêm nguồn thu nhập. Vì tay thông tin là người biết giữ lời hứa. Những sự việc tương tự không đến nỗi hiếm. Quắc vẫn ra vào các cơ quan trong giờ nghỉ như thường.. Những khổ chủ bị các hắn tống tiền thì chẳng ai dại gì mà lại nói ra, nên người khác không biết vẫn cứ tưởng Quắc câm. Mà cái sự không biết ấy đồng nghĩa với sự không cảnh giác. Vậy là tay thông tin cứ việc kính thưa các ông đã bị bắt và chuẩn bị kính thưa các ông sắp bị bắt về cái sự hây hấm…


Còn nữa- Kỳ sau đăng tiếp

... Đọc thêm!

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2011

CÂM VÀ CUỘI (kỳ 2)

(Tiếp theo kỳ trước)

Khi mở cửa, nhìn thấy cái cảnh tan hoang, ông Chủ tịch Thị xã không nói gì mà lẳng lặng vào nhà. Mọi người thấy thế cho rằng ông đang bực lắm. Phen này thì khối anh chết. Mà quả là ông đang bực thật. Ông vừa nhận Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục. Đang gắn vào cái hộp kính treo trên tường sắp hàng cùng với các Huy chương Vì sự nghiệp Văn hoá quần chúng, Huy chương vì Sự nghiệp Khuyến học, Huy chương vì sự nghiệp...có dễ đến gần chục cái Vì sự nghiệp các loại thì bà vợ yêu quý của ông ỏn ẻn: “Toàn là Vì sự nghiệp… ấy mà cấm có thấy đứa nào vì lãnh đạo, chả mấy khi thò mặt đến”. Ấy là bà có ý trách những cái anh chỉ biết lấy lời khen hay thay phong bì. Mấy chú bên kinh tế, đậm đà lắm, tình nghĩa lắm, mà lại kín đáo chứ chả phô trương. Đúng là đàn bà chỉ biết một mà không biết hai: Tiền ông giữ, xây dựng cơ sở vật chất ông nắm, công tác cán bộ ông điều hành trực tiếp; mấy cái anh giáo dục còn gặm được cái gì ngoài việc lo chuyên môn. Có đâu mà phong bì với phong bao. Nó chỉ có cái huy chương là để tri ân đối với ông về sự hết lòng vì nền giáo dục của quê hương. Hương án giữ mặt tiền. Có người lo phía sau phải có người giữ phía trước. Vậy mà bà vợ không biết cho. Thế mới bực!
Đã là lãnh đạo thì phải quan tâm đến tất cả các ngành. Các ngành thì lại muốn được lòng lãnh đạo để được ưu ái hơn nên các loại huy chương vì sự nghiệp... cứ như sao trên giời sa xuống đậu vào ngực ông. Bao giờ người ta cũng nói: “Chỉ có anh là xứng đáng nhất, bởi vì không có anh thì làm sao có phong trào...” Ông biết là họ nịnh. Nhưng ông cũng thấy tự hào. Thầy giáo của ông trên ba mươi năm dạy học cũng chỉ được nhận Huy chương với ông cùng ngày. Mà ông thầy ấy còn phải mấy lần làm hồ sơ xét duyệt lên, xét duyệt xuống mới được. Còn hồ sơ Vì Sự nghiệp của ông thì đã có cánh cán bộ Phòng Giáo dục thị xã làm tất. Họ lại còn phải năn nỉ ông thì ông mới chịu kí vào bản thành tích công lao của chính mình. Bởi vì ông rất khiêm tốn. Mà mấy tay ấy nó sáng tác thành tích cho ông đến là khéo. Nào là ông chỉ đạo phổ cập cấp hai đạt chuẩn sớm nhất trong tỉnh, nào là ông nghiêm túc chỉ đạo cuộc vận động hai không mà chỉ số chất lượng vẫn cao hơn trước khi chưa có hai không. Ở đâu thì không biết chứ còn ở thị xã này dứt khoát là không có chuyện học sinh ngồi nhầm lớp!
Thực ra cái sự chỉ đạo của ông là sự quyền biến từ có thành không và ngược lại. Ông hùng hồn tuyên bố Phổ cập là công việc trọng tâm quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ của các nhà trường. Bằng mọi giá phải phổ cập! Hiệu trưởng nào không làm được phổ cập cấp hai thì sẽ bị cách chức! Thế là Hiệu trưởng các trường hoảng tam tinh: Phấn đấu mãi, thậm chí phải chạy chọt mới có cái ghế xoàng xoàng. Chả nhẽ lại để mất vì cái sự không phổ cập. Học sinh bỏ học nhiều, chả có thể cản được. Nhưng vẫn phải phổ cập. Cái khó ló cái khôn. Người ta đã phát minh ra sáng kiến vĩ đại: biến cái số học sinh bỏ học thành số học sinh chuyển trường. Đất nước rộng bao la, cứ bảo chuyển trường đi Tây nguyên, đi miền Nam, đi Quảng ninh, đi… Có giời cũng chẳng kiểm tra được. Vậy là thị xã lập nên kì tích: Từ ngày thành lập đến nay không có học sinh nào bỏ học. Sự phổ cập trở nên chắc chắn. Còn cái việc học sinh ngồi nhầm lớp, ông giải quyết cực kì ngoạn mục. Ông bảo văn phòng thảo công văn chỉ thị cho các nhà trường phải rà soát lại xem có hiện tượng này không. Tay văn phòng làm ngay tắp lự đưa ông duyệt. Lúc đó ông bảo phải thêm vào câu: “Nếu trường nào có học sinh ngồi nhầm lớp thì hiệu trưởng và giáo viên phải chịu trách nhiệm, chịu kỉ luật”. Chẳng ai muốn bị kỉ luật! Và kết quả giáo dục thị xã tuyệt đối lành mạnh. Được đà ông giao kế hoạch cao hơn năm trước. Một số tay hiệu trưởng có ý kiến thì ông bảo: “Các anh báo cáo không có hiện tượng ngồi nhầm lớp. Đúng không nào? Thế thì chỉ tiêu chất lượng không có lí gì lại thấp được. Chẳng ai phú quý giật lùi, bế con dốc đầu trở xuống.” Cái lí trên đời vẫn phải thế. Vậy thì hai không chứ bốn không hay đến mười không cũng thế thôi. Thành tích giáo dục của thị xã vẫn ngời ngời, ông lại vừa lĩnh huy chương… Vậy mà cổng của cái anh Quang Trung lại bị đổ.
Cái sự bực dọc với vợ còn có nguyên nhân khác. Tay em vợ ông làm thiết kế cái cổng, còn thi công do chính em rể vợ ông đứng ra cai thầu. Ở cái thị xã này thì tất cả các công trình đều do ông bật đèn xanh nên các em vợ ông bao thầu trọn gói. Ông cũng yêu cầu phải dân chủ minh bạch trong cái việc này lắm. Các em ông bao giờ cũng thắng thầu. Đó là cái lẽ dĩ nhiên. Các doanh nghiệp khác biết thân phận đành bán sới đi nơi khác làm ăn. Đối với cái công trình này, ông đã bảo: “Thôi! Cái này không bõ bèn gì! Cho thằng khác nó làm. Để được cái tiếng khách quan” Nhưng bà vợ khóc lóc nói rằng ông không biết thương người nhà mình. Hay là ông lại bị con nào xỏ mũi dắt dây... Thế là ông đành... Đã ưu ái như thế mà lũ em vợ ông còn làm ăn như c...! Vua nghe vợ mất nước! Không khéo lại mang tiếng.

Giữa lúc ấy thì ông em vợ đến, mặt tái nhợt ấp úng:
- Thưa anh…
Ông lộn tiết:
- Thưa cái con khỉ. Làm thằng kỹ sư xây dựng mà ngu. Bây giờ nó đổ rồi, trắng mắt ra chưa?
Cán bộ trong thị xã này bị ông Chủ tịch chửi là ngu là chuyện bình thường. Tay kĩ sư định thanh minh nhưng ông bảo ngay:
- Về thiết kế lại! Rồi bảo tay Quang Trung lập dự án sang tôi kí. Khẩn trương làm lại ngay!
Tay kĩ sư em vợ sướng quá. Không ngờ mọi việc lại giải quyết đơn giản đến thế. Không điều tra nguyên nhân, không xác định trách nhiệm, không kỉ luật ai! Nhưng mình cũng đã thiết kế còn trên cả những tiêu chuẩn kĩ thuật theo những điều mình đã học. Công trình lại do chú em rể làm. Nếu nó có ăn bớt đến bốn mươi phần trăm thì cũng vẫn còn đủ tiêu chuẩn kĩ thuật. Thế mà cái cổng vẫn đổ. Tại sao nhỉ?

Còn nữa-kỳ sau đăng tiếp
... Đọc thêm!

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

TẠI RƯỢU MÌNH NGON!

Ngày Chủ nhật- Hát một bài cho đỡ buồn: Bài "Tại Rượu mình ngon", mình sáng tác năm 1997 phổ thơ ông bạn rượu Nguyễn Danh Khôi.
Cây nhà lá vườn, của nhà làm ra. Giọng thuốc lào...Tự hát và tự... dựng video clip. Mời mọi người nghe tạm!
Tại rượu mình ngon
Cho ta dại dột.
Ngày mai ngày mốt
Có còn say không?
Bống bống bồng bồng
Ai ru tôi ngủ...
Bao giờ rượu đủ
Cho vơi lặng thầm?

Đọc thêm!

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

CÂM VÀ CUỘI (truyện ngắn đăng nhiều kỳ)

Dạo này bận nên không viết kịp Blog- Thôi thì để nhà đỡ trống, mình đăng mấy cái truyện ngắn để mọi người đọc cho...đỡ buồn. Nói là truyện ngắn nhưng cũng phải đăng đến dăm lượt mới hết. Bạn bè thông cảm...
Cái cổng trường Trung học Phổ thông Quang Trung của Thị xã bị đổ vào đêm ngày thứ Bảy.
Một thị trấn vắng vẻ ven biển bỗng trở thành thị xã vì nó được coi là nơi phát triển công nghiệp và du lịch. (Công nghiệp ở đây là nghề làm muối, còn du lịch là do có bãi tắm). Nằm ở trung tâm của thị xã mới được thành lập ấy, trường Trung học Quang Trung như là một niềm kiêu hãnh của mọi người. Bởi nó là trường học có cấp cao nhất ở đây. Niềm kiêu hãnh này lại càng được củng cố bởi cái tên Quang Trung, cho dù ngay bên cạnh (không phải là thị xã) cũng đã có trường mang tên Nguyễn Huệ. “Anh Quang Trung to hơn, có chất lượng cao hơn anh Nguyễn Huệ”- Đấy là lời các lãnh đạo thị xã mỗi khi nói về ngôi trường yêu quý của mình.
Và để xứng tầm anh Quang Trung to hơn anh Nguyễn Huệ người ta xây cổng trường cũng to hơn. Trông nó bề thế và uy nghi lắm. Nó đối diện với nhà riêng ba tầng của Chủ tịch thị xã nên phải to, phải cao là lẽ dĩ nhiên.

Cái cổng trường được trang trí rất cầu kì với 4 trụ cổng vuông ốp gạch men màu mận chín. Bốn cái trụ đội một tấm bảng lớn bằng bê tông có dòng chữ Trường Quang Trung. Trên nóc bảng, ở chính giữa người ta thiết kế một con hải âu giang cánh đậu trên quả địa cầu, một bên là quyển sách mở với ngọn đuốc đang rực cháy, bên kia là mẫu nguyên tử hạt nhân biểu tượng khoa học. Do tài năng khiêm tốn của cánh thợ thi công nên quả địa cầu không được tròn lắm. Con chim hải âu có cái bụng quá đầy đặn trông giống một con vịt đang xoè cánh... con hải âu lai vịt ấy như vừa chui ra từ trong quả trứng- địa cầu. Còn bó đuốc thì giống một cái chổi rơm màu đỏ dựng ngược. Cổng được tô màu xanh đỏ sặc sỡ nên bà con thị xã đi làm muối về qua thường khen nức nở. Vì thế cả người thiết kế, người thi công và cả lãnh đạo đều hài lòng với công trình kiến trúc ấy.
Ấy vậy mà bây giờ cái cổng lại sụp xuống. Nó đổ vào ban đêm. Trời mùa đông, mọi nhà đóng cửa kín. Trong giấc ngủ nồng nàn, người ta chỉ mơ màng nghe thấy “ình”, sau đó thì yên ắng, nên cũng chẳng ai trở dạy. Đến sáng ra, mở cửa nhà, tự nhiên thấy một khoảng trống: cái cổng đã đổ rồi. Cái bảng tên trường vỡ tan gần một nửa, chỉ còn hai chữ Trường Quan... các chữ khác bay đâu mất, giơ ra những thanh sắt quăn queo. Mấy cái cột cổng nằm chình ình, thân vặn như bị xoắn, cái nọ chồng ngang lên cái kia trông như khẩu thần công ngếch nòng vuông hướng về nhà Chủ tịch Thị xã. Con hải âu bay mất mỏ, cụt ngủn đôi cánh, chỉ còn cái đầu tròn tròn ngóc lên khỏi đống bê tông vụn. Quả địa cầu thì văng ra xa cách đống đổ nát đến gần hai mét. Tan hoang như cảnh bên I-rắc bị quân Mĩ đánh bom chiếu trong ti vi.
Thông tin cái cổng trường bị đổ lan nhanh như điện toàn thị xã. Mấy nhà bình luận đầu trọc, túi thủng vì dạo này trời rét, nhà nghỉ vắng khách, suốt ngày ngồi xổm trên ghế các quán trà ngoài bãi tắm được dịp bàn tán về cái sự kiện có một không hai này. Y như bên Mỹ người ta bàn luận về cái sự cố ngày mười một tháng chín năm nào. Một ông đeo kính râm bảo tại thi công ăn bớt vật liệu nên mới thế. Tức thì một ông khác cãi lại ngay: nếu thi công bớt vật liệu thì tại sao nó không đổ ngay sau khi làm. Chắc là bị động đất. Có khả năng động đất thật! Bởi hồi đêm người ta thấy giường hơi rung một tí, sau đó là tiếng “ình”. Đấy là những người nhà gần thấy thế chứ còn những người ở xa vài trăm mét chả thấy gì cả. Nếu động đất thì phải đổ nhiều nhà khác chứ sao lại chỉ đổ mỗi cái cổng trường. Vả lại có ai nghe thấy đài báo nói gì về động đất đâu. Lạ nhỉ. Thế thì tại sao?
Sau khi viện mọi lí lẽ để tìm nguyên nhân nhưng không có nguyên nhân nào xác đáng, người ta tập trung vào cái hướng nghe có lí nhất là do mấy ông giáo trong trường không chịu cúng bái, động thổ hạ móng công trình gặp phải đúng ngày địa tặc. “Các ông trí thức hay khinh nhờn cái việc cúng bái nên mới thế”. Nhưng lại có người bảo: “Ông nói vậy là đếch biết gì. Ông hiệu trưởng nhà trường "sòng" lắm. Hôm động thổ xây cổng trường mời thầy cúng tưng bừng cả ngày trời. Hôm ấy học sinh nghỉ học cả, tôi thấy chiêng trống ầm ầm, tưởng nhà trường tập văn nghệ nên ghé vào xem, thấy có ông thầy cúng đang làm lễ. Giấy tiền vàng mã đốt một đống tướng, lửa đùng đùng như cháy nhà! Có cả hình nhân bằng rơm nữa.” Nhiều người xác nhận: Trước khi hội giảng, trước khi thi tốt nghiệp... nhà trường đều mời thầy cúng. Có thờ có thiêng. Làm gì có chuyện khinh nhờn... Lời qua tiếng lại, ai cũng giữ ý kiến phỏng đoán của mình, chẳng ai chịu ai. Thế là cãi nhau. Rồi mọi người cũng chợt thấy cái vô lí của mình khi nghe cô chủ quán lên tiếng: “Rõ vớ vẩn! Nó đổ kệ nó, các ông có đổ đếch đâu mà rỗi hơi cãi nhau. Về mà trông hàng cho vợ con!”. Tự dưng mấy ông nhớ tới nhiệm vụ của mình. Hôm nay là chủ nhật. Thôi thì phải về nom hàng, xem may ra có kéo được vị khách nào dửng mỡ trái mùa muốn tìm của lạ. Dạo này rét mướt, người ra bãi ít quá. Cứ ngồi đây thì thất thực... Vậy là giải tán. Nhưng những cái đầu thì vẫn nghĩ: Tại sao cái cổng của anh Quang Trung bị đổ?

Còn nữa- kỳ sau đăng tiếp
Ảnh mạng- không liên quan đến nội dung.
... Đọc thêm!

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2011

VÌ SAO ÔNG GIÓNG VỀ GIỜI (Kỳ cuối)


(Tiếp theo và hết)
Đoàn quân thắng trận quay về đến chân núi Sóc, đã thấy vua quan hớn hở mở hội mừng công. Cả đám đang hỉ hả tâng bốc nhau tài giỏi.
Vẫn ngồi trên mình ngựa, Muộn cởi áo sắt, bỏ mũ sắt, ném phịch xuống đất. Cánh đàn ông làng Gióng cũng lặng lẽ đứng phía sau. Vua thấy vậy lật đật chạy lại, cao giọng bề trên:
- Khá khen cho người giai làng Gióng! Vào đây tao cho chén rượu, rồi về triều để tao cho cái chức Lạc tướng đứng đầu các quan.
Muộn lắc đầu:
- Tao chả cần.
Vua bảo:
- Về với tao được ăn sung mặc sướng. Rượu ngon gái đẹp. Đủ cả…
Muộn vẫn lắc đầu.
- Tao chả cần.
Vua chép miệng:
- Sao mà ngố thế! Bao nhiêu là công thế mà chẳng màng làm quan. Lại về vui thú ruộng vườn…
Muộn nói:
- Tao đánh giặc đâu phải vì vua! Tao đánh giặc vì nước, vì dân, vì mẹ tao. Tao không cần thưởng!
Vua lại bảo:
- Thì mày về làm quan cho tao để có nhiều vàng bạc mà nuôi mẹ già. Rồi cùng tao canh giữ cho mọi người trên mặt đất (!)
Muộn xẵng giọng:
- Đất của mình mà chẳng giữ được thì coi được gì cho ai. Giặc nó lấn nhà, mất nước đến nơi, bọn bay không lo chống trả, lại đi nịnh ngược lại nó…
Vua còn cố vớt vát:
- Thì tao cũng đã…đã làm ngựa sắt, gậy sắt…
Muộn chỉ thẳng vào mặt vua:
- Giỏi nhỉ! Rèn ngựa thì bớt sắt, đúc gậy sắt thì rỗng ruột, dồn cát vào cho đủ nặng… để ngựa sắt các ngươi làm ra chỉ đập nhẹ một phát đã tan tành, gậy sắt thì tao khua vài đường đã gẫy vụn. Ăn bớt ăn chặn cả những thứ dùng để đánh giặc thì có còn là con người? Hay là chúng mày có ý ngầm làm vậy để ta phải chết vì tay giặc? May mà ta được Thổ thần báo trước… Không biết xấu hổ, bây giờ lại dám kể công ư? Vua quan như thế thì sao có thể thu phục được lòng người, sao tao có thể ở lại!...
Còn nữa!- chàng Muộn nói chỉ đủ cho vua nghe thấy: qua những việc chúng mày đã làm, rõ ràng trong đám vua quan có nhiều đứa là tay trong của giặc Ân. Tao không sợ giặc, chỉ một phát rắm là xong. Nhưng tao ngại cái lũ hèn mọn tay sai theo giặc. Nếu tao về làm quan với chúng mày thì rồi sẽ có lúc chúng mày giở trò hèn mạt, ngấm ngầm cho tao một nhát… để tao chịu tội với giời à! Vì nhẽ ấy tao không thể ở lại.


Nói xong Muộn hướng về phía làng Gióng lạy ba lạy. Lại vòng tay cúi đầu trước cánh đàn ông làng Gióng: “Cảm ơn giai làng! Muộn còn mẹ già, xin giúp đỡ!” rồi quay ngựa bay vút lên giời.
Cánh đàn ông làng Gióng vòng tay đáp lễ và từ từ quỳ xuống ngẩng đầu nhìn theo người giời khuất dần, khuất dần vào mây trắng…
Vua toát mồ hôi, quỳ sụp xuống lạy như tế sao. Sau đấy chừng như biết tội, ra sức sửa sang mọi nhẽ để Văn Lang yên ổn được mấy trăm năm, nối qua mười hai đời vua nữa…rồi mất về tay Thục Phán.
HẾT.

... Đọc thêm!

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

THEO VOI HÍT BÃ MÍA...

Số cái ông bạn “Đếch nói nữa không lại bảo…” là cái số chó chết. Mai hắn tổ chức cưới con. Hôm nay bão đang về.
Dĩ nhiên là hắn có mời mình ăn cỗ. Nhưng mai cơ! Sáng nay thấy mưa to gió lớn nên mình sang xem tình hình bên nhà hắn chuẩn bị thế nào. Và cũng là để chia sẻ với hắn theo kiểu chia…buồn.
Đến ngõ nhà hắn đã thấy tan hoang… Rạp đổ, buồm bạt thủng lung tung, bàn ghế chỏng chơ… Chả là quê mình có lệ tiếp khách từ một ngày trước ngày cưới, nên buồm bạt đã giương lên từ chiều qua.

Hắn ngồi thu lu ở cái ghế giữa nhà, mặt méo như hình bình hành. Thấy mình sang cái mặt hắn méo thêm tý nữa... thành cái hình thoi…
Hắn bảo:
- Ông sang đấy à. Mẹ nó! Giời đất như cái con củ…cải. Tớ đã cẩn thận chọn ngày mà vẫn bị…
Mình bảo: Đứa nào chọn ngày cho ông mà lại chọn ngay vào hai ngày thiên lao hắc đạo, nguyên vũ hắc đạo…
Hắn ngắt lời:
- Tớ đếch duy tâm. Chẳng hắc đạo hắc điếc gì! Tớ chỉ tin vào lãnh đạo.
- Đã đành! Chả tin vào lãnh đạo thì tin ai? Nhưng cưới con thì phải xem ngày...
Hắn giải thích:
- Lãnh đạo thường chọn ngày tốt để làm việc nhớn…
- Mai là ngày cưới con ông, có thấy lãnh đạo làm việc gì nhớn đâu nào?
Hắn trợn mắt:
- Sao ông chẳng chịu xem báo chí đài đóm gì cả. Ngày một tháng mười Lào Cai kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh. Làm to lắm!
Thằng này dở hơi! Mình cãi lại:
- Thì ngày tái lập tỉnh người ta, người ta kỷ niệm.
Hắn đỏ mặt:
- Đã đếch biết lại cứ cãi cố, Lao Cai tái lập tỉnh vào ngày 10 tháng 10… Bây giờ đổi sang 1 tháng 10. Ai nào dám cả gan thay đổi lịch sử? Chuyện như vậy phải được Trung ương… có khi phải Bộ Chính trị phê duyệt chứ chuyện bỡn à. Mà Trung ương… đã phê duyệt phải là ngày tốt.
Nghe cũng có lý. Nhưng mình cũng thấy là lạ. À nhớ rồi! Vậy là mình bảo hắn:
- Nói thế nào ấy chứ. Kỷ niệm nghìn năm Thăng Long cũng vào ngày 1 tháng 10 năm ngoái. Tốt đâu mà tốt! Lũ lụt miền Trung chết bao nhiêu là người… ở Hà Nội cũng mấy người thăng thiên không kịp ngáp vì nổ xe pháo hoa…
Hắn ớ ra:
- Ô vậy ra dương lịch nó có chu kỳ đúng phết. Vậy ngày 1 tháng 10 đếch phải ngày tốt. Dưng sao ngày như vậy mà các lãnh đạo cứ thích nhỉ?...

Hắn đần mặt, ngồi ngẫm nghĩ một tý rồi vỗ đùi:
- Thôi chết tao rồi! Chết tao rồi… Sao tao ngu thế không nhớ ra. Đấy là ngày Quốc khánh Tàu…
Mình chả hiểu ra sao. Quốc khánh Tàu thì liên quan gì…
Hắn thấy mình đần mặt thì bảo:
- Tao đã ngu, mày cũng ngu cho nốt! Vậy mà không hiểu ra à. Nó là thế này… Dưng mà… Đếch nói nữa kẻo lại bảo là…! Khốn nạn! Theo voi hít bã mía nó khổ thế đấy, chó chết thế đấy!
Rồi hắn quay vào nhà trong giọng hách dịch:
- Chúng mày đâu! Tập trung ra dọn dẹp sắp xếp lại. Để tan hoang thế này mà coi được à!

(Ảnh mạng, không liên quan đến bài viết)
... Đọc thêm!

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

VÌ SAO ÔNG GIÓNG VỀ GIỜI? (Kỳ 4)


Kỳ 4/
Lũ giặc Ân kéo quân vào đánh nước ta như vào chỗ không người. Chúng đã biết đến sự hèn kém của vua quan Văn Lang nên càng huyênh hoang tàn ác. Đi đến đâu chúng cũng cướp bóc đốt phá. Đi theo bọn lính là một bọn dân phu, hễ cướp bóc được cái gì là bọn dân phu lại lặc lè tha về đất Bắc. Cái gì không chở được thì chúng đốt phá tan hoang. Giặc túm cẳng con đỏ ném vào lửa cháy. Gặp đàn ông, chúng giết hại không chút tiếc thương. Thấy đàn bà, chúng thay nhau hãm hiếp… tiếng kêu khóc ai oán dậy giời dậy đất: “ Ơi vua! Ơi quan! Sao để dân đen khốn khổ thế này”

Giời lửa đỏ nung hầm hập, đất loang máu chảy thành sông…

Chợt nghe có quân ta sắp tới gần, tướng giặc vội tập hợp quân sĩ nghênh chiến. Rồi cơ ngũ chỉnh tề, tướng giặc lên ngựa khua đao, lính tráng giương cung tên sắp sẵn. Tướng giặc hét vang: “Chuẩn bị! Hãy đánh cho bọn man di Văn Lang biết oai của nước nhớn!”
Cả đám nhao nhao:
- Đả… Đả… Đánh cho bọn man di biết thế nào là oai nước nhớn!
- Đả… Đả… Đánh cho bọn man di biết thế nào là oai nước nhớn!
Muộn thấy giặc. Chàng ghìm ngựa sắt chờ cho trai tráng theo kịp. Tướng giặc tưởng quân ta sợ hãi. Hắn vung tay. Lũ giặc ngoác mồm hô “Đả! Đả…” rồi ào ào xông lên.

Muộn vỗ vào lưng ngựa sắt. Ngựa hí vang giời. Hai vó trước tung lên trên không, hai vó sau dậm lún đất… Miệng ngựa phun luồng lửa hừng hực…

Lửa thiêu đám giặc Ân đứng đầu cháy đen như lũ kiến bị rang.

Muộn vung gậy sắt, lia một phát… Gió cuộn vù vù. Lũ giặc đứng giữa phọt óc chết như ngả rạ.

Quân ta ào ạt xông lên.
Ngựa sắt tung vó phun ngàn luồng lửa, Muộn vung gậy lia thêm phát nữa lũ giặc chết thêm một đám. Trai tráng lại hò reo…

Giặc vẫn còn đông lắm. Phía sau tướng giặc vẫn đốc thúc quân sĩ của nó xông lên.

Muộn lại vung gậy. Nhát lia gậy này làm một đám giặc nữa chết không kịp ngáp.

Nhưng gậy va xuống đất… gẫy làm ba… cát bắn tung tóe!

Giặc thấy vậy lại hò la lao tới.

Nghiến răng! Trợn mắt! Muộn thuận tay nhổ ngay bụi tre bờ bên cạnh vung mạnh. Giặc lại lăn ra từng đám. Nhiều cái đập làm búi tre xơ tướp. Chàng lại nhổ bụi tre khác. Cứ vậy. Cứ vậy. Văn Lang đâu có thiếu tre.

Lửa từ mồm ngựa vẫn phun ra, đám giặc ngã xuống đứa bị cháy thiêu, đứa ngắc ngoải bị trai tráng xông lên đập chết.
Tướng giặc hoảng quá vội vàng bỏ chạy. Lính tráng của chúng cũng vội vã chạy cho xa khỏi tầm lửa phun, ngoài tầm vung tre của Muộn. Quân ta ầm ầm đuổi theo.

Đến sát biên giới. Muộn dừng ngựa lại, và ra hiệu để mọi người dừng lại.

Lũ giặc thấy ta không đuổi nữa. Chúng dừng lại thở.

Chợt thấy Muộn nhảy xuống ngựa và tất cả quân Văn Lang đều quay lưng lại.

Bọn giặc tưởng bên Văn Lang núng thế định tháo lui. Chúng hò hét xông lên.

Muộn thong thả quay người. Chàng cúi xuống vén khố, chổng mông về đất giặc.

Bọn giặc ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì. Chợt nghe “ủm ùm” một tiếng như sấm. Tướng quân nhà Ân lăn quay chết tốt. Còn sót đứa nào thì sợ mất mật, mặt mũi ngác ngơ vừa chạy vừa chém nhau loạn xạ.

Thì ra chàng Muộn ăn cơm cà nên nóng ruột, bụng sôi sùng sục tức khí đầy hơi, lại thêm bực mình vì gậy sắt bị gẫy. Bèn xả một phát rắm cho đã đời vào đất giặc. Lũ giặc không chịu nổi cái khí ấy, lăn ra mà chết. Đứa còn sống cũng ra rồ ra dại tự chém giết lẫn nhau… **

Bên ta cả cười. Thong thả kéo nhau về mừng thắng trận. Đât nước đã sạch bóng giặc ngoài.


**(Chi tiết này trong sử sách chỉ nói rằng bỗng dưng “quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót đều rạp lạy, tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin hàng cả”.)

Kỳ sau đăng tiếp

... Đọc thêm!

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011

VÌ SAO ÔNG GIÓNG VỀ GIỜI (kỳ 3)


Kỳ 3/
Lão quan cùng tên lính hầu thấy Muộn vươn vai vài phát mà nhớn nhanh như vậy thì hoảng, cả hai chạy một mạch cả ngày lẫn đêm về gặp vua. Vua hỏi:
- Chúng mày có tìm được người không.
Lão quan ấp úng thưa:
- Tìm được một thằng bé lên ba…
Vua chửi:
- Mày là đồ ăn hại! Thằng bé lên ba thì đâu chả có, bé thì làm được cái gì?
Quan thưa:
- Dưng mà lạ lắm: nó vươn vai hai phát mà đã gần bằng người nhớn. Nó vươn phát nữa thì còn to hơn cả vua…
Vua giận lắm chửi:
- Đứa nào to được hơn tao. Tao chém đứt đầu ngay.
Quan vội thưa lại:
- Nó vươn vai vài phát nữa thì còn hơn cả vua nước Ân ấy chứ.
Vua ta nghe thế thì không giận nữa. Vì thằng quan còn dám nói thằng bé ấy to hơn cả cái đứa to hơn mình. Bèn hỏi lại:
- Thật không?
- Thật!
Vua cho là sự lạ. Còn hỏi thêm: “Thế nó nói gì?” Lão quan kể lại rành mạch Muộn yêu cầu những gì những gì… Tên lính đứng bên cạnh xác nhận bằng cách gật đầu.
Vua bảo:
- Những thứ ấy có thể bắt thợ cả nước về cùng chung làm. Chỉ sợ nó nói khoác. Để tao đến tận nơi xem có đúng vậy không đã.
Rồi vua bắt người nhà đi tìm thợ cả nước và hô mọi người đóng góp sắt đồng để chuẩn bị làm các thứ theo lời của thằng bé. Rồi vua cùng lão quan xuống làng Gióng.
Vua xuống đến nhà Muộn đúng lúc bữa trưa. Thấy bà mẹ đang ngồi lặng lẽ nhìn con ăn cơm. Muộn ta lấy bát yêu vục vào cái nồi mười hai, lấy tay nhón cà muối, mỗi bát cơm to như vậy chỉ và hai phát là hết. Chả mấy chốc nồi mười hai cơm đã hết veo mà mồm vẫn còn thòm thèm chưa đã.
Vua hỏi:
- Sao mày ăn khỏe thế? Dễ đến bằng mười người…
Muộn bảo:
- Ăn vậy mới nhớn được.
Vua lại bảo:
- Mày thử nhớn tao xem nào!
Muộn không nói gì đứng lên vươn vai. Tự nhiên nhớn lên, đầu chạm xà nhà.
Vua cả kinh. Lại bảo tiếp:
- Còn nhớn được nữa không?
Muộn bảo:
- Còn! Dưng mà nhớn nữa thì đói lắm. Mẹ tao hết gạo rồi…
Người làng thấy bảo có vua về thì sang xem. Người ta túm đông túm đỏ trong nhà ngoài sân để xem vua. Và cùng vua xem Muộn ăn cơm, xem chàng ta vươn vai nhớn dậy. Ai cũng lè lưỡi sợ cho cái tài ăn khỏe của Muộn. Họ lại càng xót xa hơn khi mẹ Muộn đã nghèo lại còn phải nhịn cơm cho con ăn. Mọi người xì xào bàn bạc với nhau rồi cùng tản mát ai về nhà nấy.
Đến lúc bấy giờ vua mới tin vội tất tả về gọi các quan đốc thúc mọi người nổi lửa đốt lò rèn ngựa sắt, đúc gậy đồng, đóng áo sắt…Hàng muôn người tấp nập thổi bễ, quai búa, trăm cái lò cháy rừng rực, hàng núi sắt đồng đưa vào lò. Ròng rã suốt bảy ngày đêm búa đe chí chát.

Ngày thứ chín thì các thứ đã được đưa đến nhà Muộn. Ngựa đặt trên bánh xe do hai thớt voi kéo, còn gậy thì to hơn cột nhà phải mấy chục người khiêng lặc lè. Muộn ra xem, rồi chàng ta giơ tay khẽ đập một phát vào lưng ngựa. Cả một khối sắt to đùng sụp xuống tan tành. Muộn sầm mặt không nói gì.

Vua quan chưng hửng xấu hổ chỉ thiếu nước chui xuống đất.

Vua lập tức bắt tên quan trông coi việc rèn ngựa đem chém đầu vì tội hắn ăn bớt sắt, lơ là để thợ làm ăn gian dối. Rồi giao cho quan khác trông gương mà làm ăn cho cẩn thận. Viên quan được giao run bần bật nhận lệnh, không dám lơ là, không dám ăn bớt sắt đồng, đốc thúc thợ thuyền ra sức làm cho xong. Chín ngày sau thì ngựa sắt được sáu thớt voi kéo về làng Gióng.
Đoàn voi kéo ngựa sắt về đến nhà Muộn thì thấy dân làng tấp nập đội cơm, mang cà muối đến nhà chàng Muộn. Nhà giầu đội nồi ba mươi, nhà nghèo thì chỉ bưng cái niêu đất; bọn trẻ tay bê bịch cà muối gói bằng lá dong. Người ta lấy những cái nong to để ra giữa sân rồi trút cơm vào đấy. Dồn dịch tất cả quật thành bảy nong đầy tú ụ. Rồi trút cà vào những cái nong: được ba nong đầy. Muộn vòng tay cảm tạ xóm làng rồi ngồi xuống ăn cơm. Chưa đầy nửa khắc thì bảy nong cơm với ba nong cà hết nhẵn.
Ăn xong. Muộn khà một tiếng rồi bê hẳn cái chum nước mưa làm một hơi hết cạn sạch. Lúc bấy giờ mới bảo: No! Rồi vươn vai ba phát. Người cao đến bốn mươi thước*. Lừng lững như trái núi. Bắp chân bắp tay cuồn cuộn, ngực vồng thành múi. Khuôn mặt vuông vức, mỗi bước đi đất rung dưới chân, dáng điệu hiên ngang lẫm liệt, tiếng nói vang như sấm động:
- Đưa ngựa vào đây.
Sáu thớt voi kéo con ngựa sắt vào sân. Muộn vuốt vuốt đầu ngựa rồi ghé mồm thổi bảy hơi vào tai ngựa. Ngựa sắt chớp chớp mắt, vẫy tai. Muộn đập vào lưng ngựa một phát. Con ngựa như giật mình… tung vó. Chỗ chân ngựa hóa thành những cái ao nhỏ.
Vua và mọi người cả kinh.
Muộn mặc áo sắt đội mũ sắt rồi cúi xuống cầm cây gậy sắt. Cây gậy hơn năm chục người khiêng lặc lè mà Muộn cầm lên nhẹ nhàng như thể cái que. Người ta nhìn thấy chàng Muộn nhăn trán nhíu mày. Sao thế nhỉ? Cũng chỉ một thoáng qua… rồi mọi người thấy Muộn lắc nhẹ cánh tay, cây gậy đã xoay tít như chong chóng. Gió cuộn vù vù tiếng rít như tiếng sấm. Vua quan thất kinh mặt xanh nhợt nhạt, râu bay, tóc dựng… Dân làng mặt mũi hả hê, cánh đàn bà xuýt xoa bàn tán: “Ui giời! Mạnh thế! Khỏe thế!” Cánh đàn ông trai tráng trong làng lúc này cũng kẻ gậy người dao, mình trần khố dây xếp thành hàng đều chằn chặn đằng sau ngựa sắt. Tất cả vòng tay, mặt hướng về chàng Muộn rồi cùng hô: “Xin cho chúng tao cùng đi đánh giặc”. Muộn gật đầu ưng thuận. Tiếng hò reo của cánh đàn ông dậy giời dậy đất.
Bà mẹ già hom hem gầy guộc đứng tựa cửa nhìn con!
Muộn đặt gậy xuống đất, bước đến trước mặt mẹ, chàng quỳ xuống vòng tay cúi đầu:
- Chào Mẹ! Con đi…
Rồi chàng đứng lên, vòng tay vẫn giữ nguyên, cúi đầu hướng về phía dân làng:
- Chào tất cả bà con… Cảm ơn tất cả bà con. Muộn này còn mẹ già xin được bà con trông nom đùm bọc…
Đoạn cầm lấy cây gậy, Muộn nhảy lên ngựa sắt. Ngựa hí vang giời. Đoàn quân do Muộn dẫn đầu rần rần lên đường. Đi đến đâu nghe giời rung đất chuyển rùng rùng đến đấy.

Vua, quan, tướng, lính hầu rực rỡ áo mũ… cả bọn cụp mặt, đứng dạt về một bên nhường chỗ cho đoàn quân mình trần, khố bện.

Mẹ già vẫn tựa cửa, nước mắt chảy ròng ròng nhìn con đi. Dân làng bịn rịn giơ tay vẫy chào đưa tiễn.

Phía đồng xa… đoàn quân khuất dần sau bụi đỏ…

(Kỳ sau đăng tiếp)

*một thước bằng khoảng 40 cm

... Đọc thêm!

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

VÌ SAO ÔNG GIÓNG VỀ GIỜI (kỳ 2)


Kỳ 2/
Tuy vua quan Văn Lang đã thần phục, khom lưng quỳ gối cung phụng đủ điều nhưng vua nước Ân vẫn chưa vừa ý. Dã tâm của hắn muốn chiếm trọn Văn Lang để bành trướng cả vùng. Vì vậy vua Ân tập trung mấy mươi vạn quân ở biên giới chuẩn bị thôn tính nước ta.
Đến bấy giờ vua quan Văn Lang mới cuống lên. Vua triệu tất cả các quan tướng lại để bàn kế chống giặc.
Vua bảo:
- Triều đình ta đã chịu nhún hết mức, nhục như con chó rồi mà nhà Ân nó cũng chẳng vừa lòng. Nó cứ đánh nước ta. Bây giờ chúng mày tính thế nào?
Các Tướng thưa rằng:
- Quân nó thì đông gấp trăm lần quân ta. Ta mà chống lại thì chắc chắn ta sẽ thua, ta sẽ bị giết hết chỉ sau vài ngày...Bây giờ chỉ có dân mới có thể chống...
Vua tức quá chửi:
- Tao nuôi chúng mày cốt để khi có giặc xâm lược thì đánh giặc giữ nước, chúng mày lại bảo rằng hễ đánh thì thua. Vậy chúng mày là cái quân ăn hại à. Thật là cái lũ cơm toi… đuổi chức hết đi cho rồi.
Chửi xong lại quay sang các quan:
- Chúng mày tính kế thế nào?
Các quan bèn thưa:
- Dân tình cũng ngao ngán lắm rồi. Họ chẳng theo ta đâu.
- Sao vậy!
Các quan đành phải nói thật:
- Họ bảo rằng họ nghèo đói chẳng có sức mà đánh đấm. Vả lại trước đây người ta muốn nói thì bị triều đình bắt bớ chém giết. Nên bây giờ họ bảo: kệ, đứa nào khom lưng qùy gối cho đứa ấy chết.
Vua lại tức:
- Đem mà chém hết đứa nào nói như vậy! Dám bảo ai khom lưng quỳ gối?
Các quan lại thưa:
- Nếu chém hết thì lấy người đâu mà đánh giặc ạ!
Vua bảo:
- Chúng mày phải đi mà đánh!
Lập tức các quan run như rẽ, mặt xanh như tàu lá. Thế rồi người thì lấy lý do già yếu, kẻ thì thở than cảnh nhà khó khăn, đứa thì kêu rằng mình đang bệnh tật. Ngược hẳn với trước đấy mấy hôm người nào cũng bảo là khỏe mạnh sung sức khôn ngoan tuyệt vời xin làm quan mươi mười lăm năm nữa để tiếp tục vì dân vì nước… bây giờ các quan nhất loạt xin bỏ chức…
Vua hoảng quá chửi toáng lên, các quan tướng cũng chửi nhau loạn xị. Cả triều đình như cái chợ vỡ. Lúc thường mũ áo xênh xang thì thân mật lắm. Đến khi có giặc thì mới xoay ra quặc nhau. Quan đổ cho tướng là hèn, tướng đổ cho quan là ngu… thật chả ra làm sao.
Vặc nhau một hồi lâu. Chợt có một vị quan lên tiếng:
- Thôi không phải cãi nhau nữa! Dân nó nói vậy nhưng bụng vẫn yêu nước yêu làng. Quan tướng không đánh được giặc thì quan tướng phải tìm được người đánh giặc. Vậy tất cả quan tướng hãy chia nhau về các làng quê, kẻ chợ… đi rao tìm đứa có tài ra đánh giặc. Chả hơn còn đứng đấy mà cãi nhau. Giặc nó đến nơi cho mỗi đứa một nhát thì xong đời.
Vua nghe nhời ấy, cho là phải, liền bắt tất cả quan tướng đi rao. Các quan tướng mỗi người một thằng lính hầu, một cái loa… thất thểu về các làng rao rằng:
- Loa loa… loa…
Chiềng làng chiềng nước…
Giặc chó Ân xâm lược
Ác độc đến không cùng
Máu dân chảy ngập sông
Thây người chất thành núi

Ai là người tài giỏi
Ra cứu nước cứu dân
Dẹp tan lũ giặc Ân
Vua ta xin có thưởng…
. Loa.. loa…

Cậu bé Muộn đang nằm mút ngón tay, nghe thấy tiếng loa thì rút ngón tay ra khỏi miệng, xua ruồi bu trên mặt, chân đập xuống chõng thình thịch. Thổ Thần lại hóa thành con nhặng bay đến đậu vào vành tai:
- Bây giờ nói được rồi đấy!
- Nằm mà nói à? Muộn thì thào hỏi.
Thổ thần bảo:
- Nằm mà nói thì ai nghe! Phải ngồi dậy chứ.
Vậy là Muộn ta ngồi thẳng dậy, mồm gọi: “Mẹ ơi!”
Bà mẹ đang lúi húi nghe thấy tiếng gọi, chạy lên nhà thấy thằng con đang ngồi trên chõng. Lạ quá. Ba năm nằm ngửa tơ hơ mà nay thì ngồi chễm chệ… Chưa kịp mừng thì đã nghe đứa con dõng dạc:
- Mẹ ra gọi cái đứa gọi loa vào đây!
Bà mẹ sững người, mồm lắp bắp:
- Sao lại gọi? Gọi vào làm gì?Quan đấy. Nó oai lắm đấy. Nhỡ ra nó đánh cho…
Cậu bé Muộn vẫn khăng khăng:
- Mẹ cứ ra gọi nó vào đây…
Bà lão lập cập chạy ra ngoài đường tìm gặp ông quan. Quan nhà ta cùng tên lính hầu đã mấy ngày rao mà chẳng có ai hỏi gì. Nay thấy bảo có người gọi thì mừng lắm. Vội theo bà lão vào nhà.
Quan nhìn quanh, chỉ thấy trên chõng là một thằng bé lên ba, áo khố chẳng có.
- Đâu! Đứa nào gọi tao? Quan hỏi.
- Tao gọi đấy! Thằng bé dõng dạc trả lời.
Quan tròn mắt, há hốc mồm: Thằng ranh con cởi truồng, chưa biết vắt mũi… Lại dám gọi…

Muộn ta vẫn dõng dạc:
- Mày về bảo với vua làm cho tao một con ngựa sắt cao gấp chục lần người nhớn và một cây gậy sắt năm chục người khiêng, một bộ áo bằng sắt và một mũ sắt to gấp hai chục người bình thường đem đến đây để tao đi đánh giặc.
Quan bình tĩnh giở lại. Bắt đầu lên giọng oai:
- Láo tôm láo cá! Ba cái tuổi ranh.Vẫn còn mút vú mẹ. Đánh đấm cái gì…
Cậu bé Muộn vẫn bảo:
- Mày không tin phải không. Đã thế tao chả thèm nói nữa. Xem đây này.
Nói xong bèn vươn vai một phát, người cao gấp rưỡi… trông đã bằng thằng lên năm. Cái chõng tre rung rinh…
Quan ngơ ngác… Muộn từ trên chõng nhảy xuống đất. Lại vươn vai phát nữa: cao bằng thằng trẻ con mười lăm tuổi.
Quan xanh mặt, vội kéo tên lính hầu chạy ra khỏi nhà. Muộn cười hê hê. Bà mẹ cũng cười rồi chạy vội vào trong nhà.
Muộn ngơ ngác: Sao mẹ lại chạy? Cúi xuống nhìn. Ối giời ơi! Thì ra mình chẳng khố áo gì. Truồng nồng nỗng. Ngượng quá!
Mẹ đưa ra cho mảnh khố. Cậu ta cuốn tạm vào người. Bụng hóp lại, Muộn kêu:
- Mẹ ơi! Đói…


(Còn nữa, kỳ sau đăng tiếp)
Ảnh mạng có tính chất minh họa. Không liên quan nội dung bài viết

.. Đọc thêm!

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

VÌ SAO ÔNG GIÓNG VỀ GIỜI? (truyện dài kỳ)

Truyền thuyết "Thánh Gióng" thì ai cũng biết rồi nhưng muốn kể lại cho vui. Dùng lối viết nôm, ít dùng từ Hán Việt nên có vẻ thô thô. Hư cấu hư véo thêm tí cho có mầu chuyện kể. Viết chưa xong nhưng vẫn thử đăng. Nếu độc giả hưởng ứng thì viết tiếp...
Ngày xửa ngày xưa…
Đời Hùng Vương thứ sáu. Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Lúc bấy giờ, dân nước ta đang thuở sơ khai. Chữ Hán cũng chưa vào nước ta được bao nhiêu, đạo Khổng chưa ra đời, thế giới không bị ràng buộc bởi quân sư phụ… Người dân sống bởi cái tình là chính, còn cái lý cũng rất mực giản đơn: “Nói đúng cái thúng phải nghe”. Nói chuyện với nhau chả kể gì quan tước, vai trên vai dưới… gọi nhau vẫn “mày tao” như dân nước ngoài thời hiện đại.
(Sở dĩ phải giải thích như vậy để mọi người đừng trách người kể chuyện hay nói bậy nói bạ mà không theo phép tắc.)


Kỳ 1/ Ở làng Gióng thuộc bộ Vũ Ninh có một đôi vợ chồng đã già, sống lương thiện mà vẫn chưa có con nối dõi. Hai ông bà rất lấy làm buồn phiền.

Giời thấy vậy thì thương. Nhân có một tướng nhà giời mắc lỗi, Giời bèn trừng phạt bằng cách cho xuống trần đầu thai nhà ấy để sau này lập công chuộc tội.

Người vợ già một hôm ra vườn cà thấy có dấu chân to bằng mười dấu chân người thường. Lạ quá! Sao lại có người to thế? Bà ta bèn cho chân mình vào ướm thử.
Khi đặt bàn chân mình vào cái dấu chân to đùng kia chợt thấy trong người rạo rực, lòng xuân lai láng như thuở còn mười tám đôi mươi.

Bà ta vội vàng về nhà, thấy ông chồng già đang ngồi ngoài sân cởi trần, dạng chân đan rổ, khố dây lỏng lẻo vắt sang một bên, bà lão càng rạo rực bội phần… Vội lôi thốc ông chồng vào buồng, cởi bỏ xống áo của mình, giật cái khố dây của ông lão… rồi vòng tay ghì riết…
Lúc thỏa mãn cơn dục tình, buông tay ra thì ông lão đã ngoẹo cổ, sùi bọt mép…

Bà không dám khóc to. Bảo rằng ông bị phải gió. Làng xóm xót thương giúp đỡ chôn cất ông chồng chu đáo.

Cũng từ hôm ấy bà lão có thai. Chín tháng mười ngày vẫn không thấy đẻ. Mọi người bảo là chửa trâu. Rồi đến mười hai tháng thì bà đẻ được một con giai đặt tên là Muộn.

Muộn đẻ ra mà không biết khóc. Rồi ba tháng, năm tháng, mười tháng không biết cười… hơn năm giời cũng chẳng u ơ lấy một tiếng, mọi người bảo là câm. Suốt ngày chỉ nằm mút tay, chân khua loạn xạ.

Bà già mải đi làm, để thằng bé Muộn nằm một mình ở nhà. Mũi rãi nhoe nhoét, ruồi nhặng bu đầy mặt.

Lúc bấy giờ giặc Ân phương Bắc lăm le xâm lược nước ta. Vua Hùng hoảng sợ bèn gọi các tướng lại họp bàn. Nhưng khổ một nỗi các tướng (lúc bấy giờ gọi là Lạc tướng) toàn con ông cháu cha chỉ giỏi đội mũ đeo râu ra oai với thiên hạ, chứ nghe đến đánh trận thì mặt xanh như đít ngóe. Vả lại lúc đó tướng nhiều hơn quân. Tất cả các tướng đồng thanh rằng phải án binh bất động.

Vua lại gọi các quan (gọi là Lạc hầu) đến hiến kế, các quan thảy đều lo sợ nếu đánh giặc thì nhà cao cửa rộng của mình tan hoang, đất cát tiền bạc mất hết, việc mua quan bán tước bị đình hoãn… Vậy nên đồng lòng tâu vua xin hòa để giữ ghế, để tiếp tục tham nhũng sách nhiễu dân lành.

Vua nghe theo quan tướng, cho người đem lễ vật sang triều đình nhà Ân xin làm chư hầu để được phong vương. Bọn giặc Ân được thể càng lộng hành. Nó sang giả vờ thuê đất thuê rừng, lấn biển… đưa người của nó vào làm rồi bóc lột thẳng tay người Văn Lang. Nham hiểm hơn bọn giặc còn đưa người khai khoáng mỏ vàng, mỏ bạc… bọn này dụ dỗ con gái Văn Lang nhẹ dạ, giả vờ lấy làm vợ để đồng hóa người nước ta và dễ bề vơ vét của cải. Hàng đoàn người ngựa kìn kìn chở vàng về phương Bắc mà vẫn không hết của. Bọn giặc lại bí mật đào hầm chôn giấu vàng bạc rồi dụ dỗ mua các thiếu nữ đồng trinh chôn sống làm thần giữ của đợi đời sau con cháu sang lấy. Dân Văn Lang biết hết, họ đã trình báo lên các quan nhưng bọn quan tướng Văn Lang chỉ biết giương mắt ếch ra nhìn mà không dám ho he phản đối dù chỉ một nhời…


Dân tình vô cùng bực bội. Các bậc kỳ mục trong làng ngoài xã tập hợp từng đoàn phản đối. Vua nhà Ân bắt vua ta và các quan tướng phải thẳng tay bắt bớ đánh dẹp. Rồi còn bắt vua loan báo rằng việc chống giặc là việc của triều đình. Cấm chỉ dân đen manh động. Đứa nào làm trái thì bắt chém.

Đã vậy triều đình còn bắt dân nay phải mở lễ hội mừng vua, mai phải mở tế lễ các thánh thần phương Bắc. Dân lại phải bỏ việc đồng áng để tập trung rước sách rất là vất vả. Người già cũng chẳng được tha.


Bà mẹ cậu bé Muộn mặc dù đã già vẫn phải đi làm nghĩa vụ với vua, với vua Ân đất Bắc. Cậu bé Muộn thường bị bỏ đói. Muộn ta nằm một mình đập chân thình thịch xuống chõng tre, rồi tự dưng mở miệng u ơ hét váng cả nhà. Chợt có một con nhặng vo ve bay đến đậu vào mang tai bảo:
- Mày khôn hồn thì nằm im. Mày mà nói bây giờ là mày phải chết đấy!

Thì ra Muộn biết nói chứ không phải là câm như mọi người thường nghĩ. Còn con nhặng chính là Thổ thần.

Cậu bé Muộn đành thì thầm chỉ đủ cho con nhặng nghe thấy:
- Sao tao lại không được nói!
- Mày nằm ở đây không biết. Mấy người đòi chống giặc, nhà vua bắt hết rồi. Mày mà nói ra, vua nó sai người đến cho một nhát thì xuống âm phủ, rồi thì không có cơ hội lập công chuộc tội với giời đâu. Cứ nằm im đấy mà đợi.
- Vậy lúc nào mới được nói?
Thổ thần nói:
- Bao giờ tao bảo mới được nói.
Muộn lại nằm mút tay ngẫm ngợi. Rồi lại hỏi:
- Vậy nhỡ giặc nó đánh ngay sang đây thì sao.
Thổ thần bảo:
- Từ thuở Lộc Tục Kinh Dương Vương đến nay, giữ được nước giữ được đất là nhờ dân. Nay bọn vua quan triều đình bảo để chúng nó lo. Có mà lo được cứt! Cái lũ hèn này chỉ giỏi bắt nạt dân lành.... Mày cứ nằm im đấy đã, để chúng nó biết thân. Rồi chúng nó sẽ trắng mắt ra. Lúc bấy giờ mình đứng dậy cũng chưa muộn. Nhớ nhá! Cứ nằm im. Tức mấy cũng không được nói.

Thổ thần dặn vậy rồi bay đi. Muộn ta lại nằm mút tay ngẫm ngợi. Từ đấy giở đi không u ơ gì nữa. Mọi người vẫn bảo là câm.

Kỳ sau đăng tiếp...
(Ảnh mạng có tính chất minh họa. không liên quan đến nội dung bài viết) Đọc thêm!